Khác

Chùa Mõ Nghi Dương – Truyền Thuyết Một Nàng Công Chúa

Đền Mõ xã Ngũ Phúc là nơi thờ Công chùa Quỳnh Trân Triều Trần, con gái của vua Trần Thánh Tông, chị gái vua Trần Nhân Tông, người có công lớn với dân với nước,

Hải Phòng13/01/2026Khúc Thị Hồng Anh (Đoàn xã Nghi Dương)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chùa Mõ Nghi Dương – Truyền Thuyết Một Nàng Công Chúa

Thực hiện đề án của Trung ương Đoàn về tiếp tục triển khai câu chuyện Thời hoa lủa, chúng tôi BCH Đoàn xã đã tìm đến ông Nguyễn Công Trai – sinh năm 1957 – Quê ở xã Nghi Dương, thành phố Hải Phòng. Chúng tôi được nghe ông kể về khu Di tích Đền Mõ thuộc thôn Nghi Dương, xã Nghi Dương Thành Phố Hải Phòng.

Đền Mõ xã Ngũ Phúc là nơi thờ Công chùa Quỳnh Trân Triều Trần, con gái của vua Trần Thánh Tông, chị gái vua Trần Nhân Tông, người có công lớn với dân với nước, được nhà nước công nhận Di tích lịch sử văn hóa điêu khắc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1992 và tổ chức lễ hội truyền thống vào ngày 12,13,14 tháng 02 âm lịch hàng năm.

Ông kể rằng: Triều đại nhà Trần có nàng công Chúa Quỳnh Trân. Tiên tổ xa đời vốn là người vùng Mân, Triết (tức là vùng Phúc Kiến, Triết Giang, Trung Quốc - Ngô Đăng Lợi chú) đến chọn đất ở Yên tử, con cháu sinh ra đều có tiếng tăm cả, vào lúc cuối đời Tiền Lê, thiên hạ rối loạn nên họ Trần mới di cư về hương tức Mặc, lấy người con gái họ Vũ ở hương này, sinh ra Trần Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, ba đời này đều cư trú luôn ở đây và trở thành người Làng Tức Mặc. Trân Thừa lấy người làng là con gái họ Lê. Bà này vốn người hiển đức, nhan sắc, giỏi cai quản việc nhà, chăm nghề nông, nghề tằm tơ, do đó gia đình ngày càng giàu có, Trần Thừa trở thành Hào trưởng của Châu này. Ông bà sinh được 6 người con, con cả là Càn Khách (Liễu), con thứ là Nhật Cảnh. Cảnh có tướng mạo uy nghi, mặt rồng, lại có lòng nhân đức đại lượng, mang khí tượng đế vương. Triều vua Lý Chiêu Hoàng, Cảnh được giữ chức nội thị. Năm Ất Dậu (1225) được vua Lý nhường ngôi lên được thiên hạ đó là vua Trần Thái Tông, ở ngôi 33 năm, nhường ngôi cho Thái tử Hoàng, gia tu ở Chùa Chân Giáo (ngày ấy, người ta đua nhau theo cửa phật, cũng như công chúa Thiên Thính Quỳnh Trân). Thái tử Hoàng lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Thiệu Khánh. Đó là vua Trần Thánh Tông, cha sinh của công Chúa Quỳnh Trân. Thánh Tông là người hiếu lễ, nhân từ, trọng người hiền, sùng và hiểu thấu đạo Phật. Ngay từ khi còn là Thái tử, đường con cái đã muộn mằn mới sai đạo sỹ Cung Thái Thanh làm sớ cầu tự. Thượng đế xem xong tấu chương, sai Nam giới thì thánh kim Chân, nữ thì công chúa Quỳnh Hoa xuống trần 6 kỷ.

Công chúa vốn dòng dõi thần tiên nên có sắc đẹp nghiêng nước, nghiêng thành, lại thông minh xuất chúng, học thức hơn người, thông thạo đủ cả cầm, thư, cung, kiếm. Nhà Vua rất yêu quý, lúc ấy có chiếu nhà Vua quy định thể lệ phong tục cho hoàng thân, vương hầu, công chúa thuộc dòng chính nhà vua được phong dòng lá ngọc cành vàng, cháu ba đời được phong tước hầu, cháu bốn đời ban cho tước Minh Tự. Cháu năm đời tước Thượng thẩm, cứ y theo ngũ phục đồ mà xét ban phong. Năm Quý Mùi 1283, công chúa lòng không muốn nhuốm bụi trần mới xin Thượng hoàng cho xuất gia thờ Phật. Thượng Hoàng bằng lòng, cho phép được di thăm thú các nơi trong nước xem nơi nào có thắng tích thì được dựng chùa, Công chúa từ phủ Thiên Trường đi tìm cảnh đẹp. Một hôm qua xã Nghi Dương, huyện Nghi Dương, Phủ Kinh Môn thấy địa thế đất này giống như con chim đang bay, núi non, sông nước mênh mông, phong cảnh thanh u, quả là cảnh cực lạc, bèn làm một am nhỏ, ngày đêm hương đèn thờ Phật. Nửa năm sau, lại mở rộng chùa, tạc tượng đúc chuông, chùa trở thành một danh thắng lớn gọi là Chùa Nghi Dương. Ngày 12 tháng 2 năm Giáp Thân (1284) làm lễ Khánh hạ, tự xưng đạo hiệu là Đại uy Thiên Thính, Công chúa lại mở rộng việc khai khẩn ruộng vườn, cấp phát tiền tài cho nhiều người cày cấy. Từ đấy dân Nghi Dương ngày càng đầy đủ, trở thành một làng giàu có lớn. Còn Công chúa Quỳnh Trân không chịu xuất giá, trở lại chùa Nghi Dương ngày đêm đốt hương thờ Phật, tụng niệm chân kinh, thiết lập dàn tràng, khuyến bố thí kẻ khó. Những người xung quanh đều được hưởng ân huệ, dân 5 xã người đói thì được giúp lương ăn, kẻ rét được cấp áo quần. Mọi người đều vui vẻ như được sống ở cõi đài xuân. Lúc này, ở xã Du Lễ có ông Bạt Hải rất cảm phục đạo đức lớn của công chúa mới đem ruộng tu ở xứ Tri Lai (tục gọi là Đồng Lại) gồm 26 mẫu cúng tiến. Công chúa rất khen ngợi hảo tâm và giao cho người cày cấy, lấy làm ruộng thờ cúng (tự điền) mãi mãi. Công chúa tuy ở chốn cửa Thiền nhưng do nhiều năm chăm nghiệp lớn nông trang. Vì thế điền sản ngày một nhiều, nô bộc ngày càng đông, việc trông nom, cai quản khó biết đầy đủ. Công chúa bèn dựng một cái quán ở cạnh ấp bảo nô bộc rằng: Các ngươi nghe hiệu lệnh của ta bằng tiếng mõ để đi làm hay về nghỉ. Nếu trong ngày hễ nghe tiếng mõ ở chùa thì về ăn uống, nếu nghe tiếng mỡ ở quán thì có công việc. Nô bộc vâng lệnh, hàng ngày cứ theo hiệu lệnh mà làm. Mọi người truyền ngôn gọi là "Chùa mõ", "Quán mõ". Công chúa nhân đó đổi tên là chùa Đồng Mục.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn