CHÙA PHẬT ĐÁ VÀ NHỮNG GIAI THOẠI
Linh Phước cổ tự, còn gọi là chùa Phật Đá, tọa lạc tại khu 1, thị trấn Mỹ Phước. Chùa có quy mô không lớn như một số ngôi chùa khác trong tỉnh, nhưng xưa kia là ngôi chùa nổi tiếng ở vùng Đồng Tháp Mười, từng gắn bó với tên đất, tên làng. Trước kia, chùa có một pho tượng bằng đá, theo các nhà nghiên cứu là tượng thần Visnu thuộc văn hóa Phù Nam. Nhiều người biết đến chùa không chỉ vì nguồn gốc ra đời có nhiều bí ẩn mà còn vì bề dày lịch sử của chùa.
Gần chùa Phật Đá có ngã tư Bà Bèo, là nơi giao nhau của nhiều dòng kinh, trong đó có kinh Bàu Bèo, sau nói trại ra là Bà Bèo, nay là kinh Nguyễn Văn Tiếp. Đây là con kinh do Đô đốc Tây Sơn là Đặng Trấn chỉ huy đào vào năm 1785, cũng là con kinh đào thứ hai của đất Nam Bộ, sau kinh Vũng Gù (1705). Thời bấy giờ, quân Tây Sơn đào con kinh này nhằm mục đích quân sự, làm bàn đạp bao vây quân Đông Sơn phản loạn đóng tại Gò Lũy, nay thuộc xã Nhị Bình, huyện Châu Thành, Tiền Giang.
Chùa Phật Đá hiện nayChùa Phật Đá hiện tại cách ngôi chùa cổ hơn nửa cây số về hướng tây bắc. Chuyện dân gian kể rằng: vào năm 1772 có ông Lương là mục đồng lớn tuổi, người thôn Bàu Bèo. Một hôm như thường lệ, ông thả trâu trên cánh đồng hoang, sình lầy rộng lớn. Khi ông cho trâu lội ngang qua Bàu Sọ (nằm giữa Bàu Sấu và Bàu Bèo), gặp phải một tượng đá dài, to lớn đứng thẳng đứng dưới lớp sình dày, ông liền chạy về báo cho dân làng biết. Các vị kỳ lão và bà con vội vã chạy đến cùng nhau đem tượng lên xem thì phát hiện đây là pho tượng Phật bằng đá có bốn tay: hai tay trên cầm mặt nhật, mặt nguyệt; hai tay dưới cầm trái châu và tích tượng, đứng trên tòa sen cao khoảng 1,40m. Dân làng vui mừng bàn nhau rước tượng về lập chùa thờ, dân gian gọi là chùa Phật Đá. Ông Lương tình nguyện hằng đêm đến thắp hương cho Phật và trông nom chùa. Từ đó, giữa vùng hoang vu vắng lặng xuất hiện tiếng mõ cầu kinh, cùng những hồi chuông ngân dài xua đi màn đêm cô tịch.
Mấy năm sau đó, quan Bảo hộ Thoại Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại qua đây, thình lình vợ ông phát bệnh. Có người mách bảo phải vào chùa van vái mới mong khỏi bệnh, quan Bảo hộ nghe theo và quả nhiên hiệu nghiệm. Sau đó, ngôi chùa được Bảo hộ Thoại Ngọc hầu hỗ trợ xây dựng lại khang trang và đặt tên chùa là Linh Phước, khách thập phương đến cúng viếng ngày một đông hơn. Việc này cũng được Nguyễn Liên Phong- tác giả Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca (Xuất bản năm 1909) chép lại như sau: “Ông Bảo hộ Thoại qua kinh/ Bà cảm thời chứng thình lình phát đau/ Ông Thoại xót xa ưu sầu/ Trên bờ mách miệng phật cầu hiển linh/ Vái van lập tức bịnh lành/ Ngày sau tu chỉnh mới thành chùa to”. Tuy nhiên, chuyện này cũng là giai thoại, bởi Thoại Ngọc Hầu sinh năm 1761, còn chùa Linh Phước xây dựng lại vào năm 1789, năm đó Nguyễn Văn Thoại chưa làm quan tới chức Bảo hộ.
Nhưng ở vùng này còn có một vị quan lớn tuổi hơn, vào năm 1778, sau khi chiếm lại Gia Định được chúa Nguyễn phong chức Bảo hộ Chân Lạp, đó là Khâm sai Chưởng cơ Hồ Văn Lân, người huyện Kiến Đăng. Nay còn mộ và bài vị thờ ở chùa Kim Tiên, thị trấn Cai Lậy. Có thể là do người xưa nhầm lẫn giữa 2 vị quan trên.
Khi thực dân Pháp chiếm lục tỉnh Nam Kỳ, chùa không còn khách vãng lai, trở nên hoang vắng, quạnh hiu. Năm 1886, tượng Phật bị trẻ mục đồng đánh cắp đưa về tận chùa Mục Đồng ở Chợ Bưng - Tam Hiệp. Mãi đến năm 1897, người dân địa phương phát hiện và đưa trở về chùa, sau đó rước cụ Từ Hòa về trụ trì.
Đầu thế kỷ XX (khoảng năm 1917), thực dân Pháp cho xáng đào kinh La-com (nay là kinh Nguyễn Tấn Thành), xâm phạm đến chùa. Huyền thoại xưa lặp lại, rằng có một bà đầm, vợ ông chủ chiếc xáng ghé lại chùa, ra sau rửa mặt thì bị nổi mề đay, ngất xỉu. Chủ hãng xáng sợ quá phải cúng vái và hỗ trợ xây dựng lại chùa. Chùa được di dời về chỗ hiện nay với diện tích 7 ha và được Hòa thượng Thích Quảng Ân (trụ trì) cho xây ngôi chùa mới có 4 nóc rất khang trang. Ông còn cho làm khuôn đúc Phật, đúc được tượng Phật Chuẩn Đề 18 tay. Tín đồ phật tử tề tựu ngày một đông.
Năm 1927, chùa được trùng tu, xây tường nối dài nhà Tổ, xung quanh vườn chùa có trồng nhiều cây sao cao ngất. Thời đó, khách thương hồ qua kinh, từ xa đã nhìn thấy hàng sao ấy, biết là địa điểm chùa Phật Đá - Bàu Bèo. Bấy giờ có ông Cử nhân Lưu Liệu, người của phong trào Văn Thân ở miền Trung bị đàn áp chạy về chùa tá túc, mở lớp học dạy chữ Nho. Người học trò xuất sắc của ông là ông Phan Văn Khoẻ, quê xã Mỹ Hạnh Đông, về sau làm Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ. Thuở ấy, nhiều bậc anh tài đã đến viếng chùa để lại một số bài thơ, vịnh phú ca ngợi vẻ đẹp của chùa.
Năm 1946, giặc Pháp đánh vô Bà Bèo, chùa Phật Đá bị hư hại nặng. Hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến, chùa đã mang “đại hồng chung” và tất cả đồ đồng trong chùa hiến cho công binh xưởng để chế tạo vũ khí. Hàng trăm cây sao to quanh chùa phải đốn hạ, làm vật cản chặn tàu giặc. Trụ trì chùa cũng tham gia Việt Minh chống Pháp. Ngôi chùa trở thành nơi hội họp và nuôi giấu cán bộ cách mạng. Từ đó chùa cũng bị giặc đánh phá bằng thuốc nổ, xe ủi san bằng.
Sau năm 1954, Hòa thượng Thích Quảng Ân trở về cùng các đệ tử xây dựng lại chùa, nhưng không bao lâu thì chiến tranh bùng nổ. Khoảng năm 1964, giặc ném bom, chùa bị cháy, tượng Phật đá cổ bị gãy đổ. Số tượng Phật còn lại phải di tản ra Gò Lũy (xã Nhị Bình, huyện Châu Thành) sau đó dời về Phường 5, Thành phố Mỹ Tho. Lúc này, tại nền chùa cũ thì bị giặc chiếm, đưa xe ủi đất san bằng mồ mả, cây cảnh để đóng bót đánh phá cách mạng. Rồi năm 1978, pho tượng Phật bằng đá nguyên bản tại Phường 5 lại bị đánh cắp, đến nay chưa tìm lại được. Năm 1979, chùa được xây dựng lại trên nền cũbằng cây lá thô sơ, sau đó là tường gạch, mái ngói cấp 4 do sự đóng góp của phật tử.
Đầu năm 2006, được sự giúp đỡ của Ban trị sự Phật giáo Tiền Giang, chư tôn, đức tăng ni trong và ngoài tỉnh cùng các tín đồ gần xa tiến hành trùng tu lại ngôi chùa, từ Chánh điện đến Hậu tổ khá khang trang với kinh phí 1,6 tỷ đồng. Tượng Phật Đá được phục chế đúng nguyên bản. Tượng Phật Quan Thế Âm ngự trên tòa sen có mái che, đèn điện chiếu sáng. Khuôn viên chùa có nhiều bóng cây vừa mát mẻ vừa tạo vẻ thanh tịnh, trang nghiêm. Gần đây, đông đảo du khách trong và ngoài nước thường lui tới thưởng ngoạn khung cảnh trang nghiêm của chùa.
Phát huy truyền thống tốt đẹp của chùa Phật Đá năm xưa, cố Hòa thượng Thích Nhuận Sanh, trụ trì chùa từ năm 1979 - 2013 đã không ngừng chăm lo hành đạo và nhập thế giúp đời. Trong việc đạo, ông hết lòng cống hiến cho Phật pháp.Trong những năm cuối đời, ông đã chạy đua với thời gian, với căn bệnh hiểm nghèo để thực hiện tâm nguyện là hoàn thành việc xây dựng lại ngôi chùa khang trang như hiện nay. Trong việc đời, ông rất quan tâm đến hoạt động từ thiện.Những năm lũ lụt lớn, ông vận động phật tử nhiều nơi cứu tế, cứu trợ cho đồng bào trong huyện từ 20 - 30 triệu đồng. Bình thường hàng năm cứu tế hàng chục triệu đồng. Ông là đại biểu Hội đồng nhân dân huyện các khóa I, II và III.Hòa thượng viên tịch lúc 12 giờ 5 phút trưa ngày 29/7/2013 (22/6 âm lịch).
Với chiều dài lịch sử và vị trí của chùa hiện nay, chùa Phật Đá - Linh Phước cổ tự xứng đáng là một di tích văn hóa trong vùng Đồng Tháp Mười, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.



