CHÚA TIÊN NGUYỄN HOÀNG VÀ HÀNH TRÌNH NAM TIẾN, KIẾN TẠO CƠ HỒNG ĐÀNG TRONG (1525 – 1613)
Lịch sử phong kiến Việt Nam ghi nhận thế kỷ XVI là một giai đoạn đầy biến động: triều Lê suy vi, nhà Mạc cướp ngôi, rồi chiến tranh Nam - Bắc triều bùng nổ kéo dài đẫm máu. Giữa cục diện rối ren ấy, sự kiện Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) xin vào trấn thủ Thuận Hóa năm Mậu Ngọ (1558) không chỉ là một bước ngoặt sinh tử của dòng họ Nguyễn mà còn là khoảnh khắc định hình lại không gian địa - chính trị của cả dân tộc. Từ một vùng đất được xem là "ô châu ác địa", biên viễn hiểm trở, dưới bàn tay tài tình, tầm nhìn chiến lược và tấm lòng nhân đức của Nguyễn Hoàng, Đàng Trong đã vươn lên thành một cõi bình yên, trù phú, làm bàn đạp cho công cuộc mở cõi vĩ đại về phương Nam.
Quyết định mang gươm đi mở cõi và cuộc di dân lịch sử vào Thuận Hóa (1558)
Năm 1558, trước sức ép và sự ghen ghét của anh rể là Trịnh Kiểm (người đã sát hại anh ruột ông là Nguyễn Uông), Nguyễn Hoàng khôn khéo ẩn mình, mượn kế sách của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (Một dãy Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời), bèn đứng đơn xin vua Lê cho vào trấn thủ xứ Thuận Hóa.
Khi đoàn thuyền của Nguyễn Hoàng rời quê hương Gia Miêu (Thanh Hóa) giong buồm nam tiến, đi theo ông không chỉ có gia quyến mà còn có hàng vạn tướng sĩ, nghĩa dũng và đồng hương người Thanh - Nghệ. Đây không phải là một cuộc chạy trốn thuần túy, mà là một cuộc di dân có tổ chức mang tầm vóc lịch sử. Chính quyết định này đã xé rách bức màn tĩnh lặng của phương Nam, đưa dòng chảy văn minh Đại Việt vượt qua giới hạn đèo Ngang để đặt chân lên vùng đất mới, khai mở một không gian sinh tồn lâu dài cho dân tộc.
Thiết lập trật tự trị an, biến "ô châu ác địa" thành cõi bình yên không khóa cửa
Khi Nguyễn Hoàng vừa đặt chân đến Thuận Hóa, đây là vùng đất loạn lạc, lòng người ly tán, trộm cướp hoành hành, kỷ cương lỏng lẻo. Với uy tài và chính sách khoan hòa, bác ái, Nguyễn Hoàng nhanh chóng ổn định tình hình. Nhà bác học Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục đã ca ngợi hết lời chính sách cai trị của ông: "Chính sự khoan hòa, việc gì cũng làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ... Quan dân hai xứ thân yên tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cắp, cửa ngoài không phải đóng...".
Thành tích này chứng tỏ Nguyễn Hoàng không chỉ là một nhà quân sự giỏi mà còn là một nhà trị quốc kiệt xuất. Việc biến một vùng biên viễn hỗn loạn thành một nơi "đêm không đóng cửa, ngoài đường không nhặt của rơi" đã tạo nên sức hút mạnh mẽ, lôi kéo dòng lưu dân từ miền Bắc và các vùng lân cận tiếp tục kéo vào khai hoang, làm giàu cho xứ Đàng Trong.
Khéo léo thu phục lòng dân và xây dựng nền tảng tâm linh với ngôi chùa Thiên Mụ
Nguyễn Hoàng thấu hiểu rằng để an định một vùng đất mới, vũ khí và luật pháp là chưa đủ; điều cốt lõi là phải định hình đời sống tinh thần và tạo dựng điểm tựa tâm linh cho nhân dân. Theo sử sách và truyền thuyết, khi ông đi tuần tra vùng đất phía Bắc sông Hương, thấy một gò đất cao có hình dáng như rồng cuộn hổ ngồi, ban đêm thường có ngọn đèn soi sáng (gọi là gò Thiên Mụ), dân gian đồn đại có bà tiên áo đỏ hiện ra dặn rằng nơi đây sẽ có chân chúa tụ khí phát vương.
Nguyễn Hoàng liền cho lập miếu thờ và xây dựng nên chùa Thiên Mụ (năm 1601) ngay bên dòng sông Hương thơ mộng. Việc kết hợp khéo léo giữa hệ tư tưởng, tín ngưỡng bản địa với quyền lực chính trị đã giúp ông nhanh chóng thu phục trọn vẹn lòng tin của người dân bản địa cũng như các lưu dân tứ xứ, tạo nên khối đại đoàn kết lương - giáo, thuận lòng người trong toàn cõi.
Tầm nhìn chiến lược vượt trội: Đưa Đàng Trong vươn ra biển lớn, phát triển ngoại thương quốc tế
Trái ngược với hệ tư tưởng "trọng nông ức thương" khắt khe và bảo thủ của triều đình phong kiến phương Bắc (Đàng Ngoài) lúc bấy giờ, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng từ rất sớm đã sở hữu tư duy kinh tế hướng biển vô cùng nhạy bén. Ông nhận thấy vị trí địa lý đắc địa của vùng đất Quảng Nam và các cửa biển, từ đó chủ động mở cửa giao thương với các thương thuyền nước ngoài như Nhật Bản, Trung Quốc, Xiêm La và các nước phương Tây.
Thương cảng Hội An dưới thời Nguyễn Hoàng bắt đầu được chú trọng khai thác, trở thành một trung tâm mậu dịch quốc tế sầm uất bậc nhất Đông Nam Á thời bấy giờ. Nguồn thu từ thuế ngoại thương, buôn bán trầm hương, tơ lụa, gốm sứ đã cung cấp nguồn tài chính dồi dào để triều đình Đàng Trong tự túc ngân sách, mua sắm vũ khí, đúc súng ống và nuôi dưỡng quân đội hùng mạnh mà không phải phụ thuộc vào phương Bắc.
Mở rộng địa hạt, kiêm quản Quảng Nam và thiết lập hệ thống hành chính quy củ
Năm 1569, Nguyễn Hoàng thân hành ra Bắc yết kiến vua Lê Anh Tông và nộp quân lương, vàng bạc giúp Nam triều đánh nhà Mạc. Cảm phục trước công trạng và tài năng của ông, triều đình giao cho ông kiêm luôn trấn thủ xứ Quảng Nam – vùng đất phì nhiêu, đông dân, giàu sản vật bậc nhất lúc bấy giờ.
Việc nắm giữ cả hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam đã giúp Nguyễn Hoàng tập trung toàn bộ nguồn lực kinh tế - quân sự của miền Trung vào một mối. Đến năm 1602, ông cử người con trưởng là Nguyễn Phúc Nguyên vào trấn thủ xứ Quảng Nam, cho lập dinh Thanh Chiêm, lập phủ Điện Bàn, định rõ các đơn vị hành chính phủ, huyện, xã. Hệ thống hành chính này giúp việc quản lý dân đinh, thu thuế và điều hành binh mã trở nên cực kỳ chặt chẽ, tạo khung pháp lý vững chắc cho sự phát triển của nhà nước chúa Nguyễn.
Lập chiến công dẹp giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc vùng duyên hải Đàng Trong
Không chỉ lo nội trị, Nguyễn Hoàng còn là một nhà cầm quân quyết đoán. Sử sách ghi lại, từ những năm 1560, khi lực lượng thủy quân nhà Mạc thường xuyên dùng đường biển đánh phá vùng duyên hải Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã cho lập các đồn binh ven biển, tự mình cầm quân tuần tra và đánh lui nhiều đợt xâm nhập.
Đặc biệt, năm 1572, khi tướng nhà Mạc là Lập Bạo đem 60 chiến thuyền bất ngờ tấn công vào cửa biển Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã dùng kế sách thông minh (tương kế tựu kế dùng mỹ nhân kế) để tiêu diệt gọn gàng Lập Bạo, bắt sống hàng ngàn quân địch và thu hồi toàn bộ vũ khí. Chiến thắng này không chỉ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ non trẻ mà còn khẳng định uy danh quân sự lừng lẫy của Chúa Tiên, khiến các thế lực thù địch bên ngoài không dám coi thường.
Đem quân ra Bắc dẹp giặc Mạc suốt 8 năm – Trọn vẹn nghĩa vụ với triều đình Lê - Trịnh
Năm 1593, theo lệnh triệu tập của triều đình vua Lê và chúa Trịnh Tùng, Nguyễn Hoàng đã trực tiếp mang vạn quân tinh nhuệ vượt đèo Ngang ra Bắc để tham gia liên minh Lê - Trịnh tổng phản công tiêu diệt nhà Mạc (chiến dịch Bắc chinh). Suốt ròng rã 8 năm trời ở chiến trường miền Bắc, quân của Nguyễn Hoàng luôn xông pha nơi tuyến đầu, lập nhiều chiến công hiển hách, góp phần quan trọng giúp nhà Lê trung hưng, thu phục lại kinh đô Thăng Long (Đông Đô).
Dù nắm trong tay lực lượng hùng mạnh và lập công lớn, Nguyễn Hoàng vẫn giữ tròn đạo lý của một bề tôi trong bối cảnh lịch sử phức tạp thời bấy giờ. Sự đóng góp quân sự to lớn này của ông không chỉ giúp triều Lê khôi phục giang sơn mà còn là minh chứng cho tinh thần vì đại cục quốc gia của một bậc hào kiệt.
Cuộc đào thoát ngoạn mục trở lại Đàng Trong (1600) – Bảo toàn cơ đồ tự chủ
Khi lập được nhiều chiến công lớn ở miền Bắc, chúa Trịnh Tùng bắt đầu sinh lòng nghi kỵ, tìm cách kìm hãm và ám hại Nguyễn Hoàng. Nhận thức rõ hiểm nguy, với mưu lược phi thường, vào năm Canh Tý (1600), Nguyễn Hoàng đã dùng kế "điệu hổ ly sơn" giả vờ xin về trấn thủ xứ Sơn Tây, rồi bất ngờ xuống thuyền trốn chạy về hướng Nam.
Ông để lại người con thứ năm là Nguyễn Phúc Hải và cháu làm con tin ở lại để làm giảm sự nghi ngờ của họ Trịnh, còn bản thân vượt sóng gió trở về vùng đất Thuận - Quảng an toàn. Cuộc đào thoát đầy mưu trí này được các nhà sử học đánh giá là một trong những cuộc rút lui chiến lược vĩ đại nhất lịch sử Việt Nam. Nếu không có quyết định quyết đoán này của Nguyễn Hoàng, lực lượng Đàng Trong có thể đã bị tiêu diệt gọn trong lòng địch, và cục diện lịch sử Việt Nam rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.
Đẩy mạnh công cuộc Nam tiến, mở rộng cương thổ đến tận vùng đất Phú Yên
Trở về Đàng Trong sau năm 1600, Nguyễn Hoàng tiếp tục đẩy mạnh tầm nhìn chiến lược hướng về phương Nam. Nhận thấy phía bên kia đèo Cù Mông là vùng đất Phú Yên trù phú nhưng bỏ ngỏ, năm 1611, ông đã cử danh tướng Lương Văn Chế (hoặc Lương Văn Chấn) đem quân tiến đánh, dẹp yên các bộ tộc quấy rối và chính thức sáp nhập vùng đất Phú Yên vào bản đồ Đàng Trong (lập ra phủ Tuy Hòa và Hoa Châu).
Sự kiện này đánh dấu mốc son lịch sử quan trọng: giới hạn lãnh thổ của Đại Việt dưới thời chúa Nguyễn đã được kéo dài từ đèo Ngang đến tận đèo Cù Mông. Đây là bước tiến bản lề, hiện thực hóa khát vọng mở cõi muôn đời của dân tộc, tạo đà trực tiếp cho các thế hệ chúa Nguyễn đời sau tiếp tục tiến sâu vào Khánh Hòa, Nam Bộ và tận mũi Cà Mau.
Di chúc lịch sử và tầm nhìn trăm năm để lại cho hậu thế xây dựng cơ nghiệp muôn đời
Tháng 6 năm Quý Sửu (1613), Chúa Tiên Nguyễn Hoàng qua đời ở tuổi 89, trị vì xứ Đàng Trong tổng cộng 56 năm. Trước lúc nhắm mắt xuôi tay, vị khai quốc công thần Đàng Trong đã để lại lời di huấn vô cùng sâu sắc và hào hùng cho người con thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi) cùng các quan lại thân tín:
"Ta với các ông đồng cam cộng khổ đã lâu, một lòng gầy dựng nghiệp lớn... Xứ Thuận Quảng đất rộng, người đông, kế sách giữ nước hay nhất là luyện tập binh thuyền, thu phục lòng dân. Nếu biết luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì có thể xây dựng cơ nghiệp đến muôn đời..."
Lời di chúc này không chỉ là chiến lược gia đình mà là cương lĩnh chính trị tầm cỡ quốc gia, định hướng toàn bộ đường lối đối nội, đối ngoại cho các đời chúa Nguyễn tiếp theo trong suốt hơn hai thế kỷ, biến Đàng Trong thành một thế lực quân sự - kinh tế độc lập, cường thịnh.
LỜI KẾT
Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp lẫy lừng của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, các nhà sử học hiện đại đều thống nhất nhận định: Ông là một nhân vật lịch sử lớn, một nhà chính trị, quân sự thiên tài có tầm nhìn vượt thời đại. Từ hai bàn tay trắng đi vào vùng đất hiểm trở, vượt qua bao âm mưu hiểm độc ở cả hai miền Nam - Bắc, ông đã gầy dựng nên một cơ đồ vững chắc, mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế biển và để lại di sản vô giá cho sự trường tồn của dân tộc Việt Nam trên dải đất hình chữ S ngày nay.



