Chuẩn bị chiến dịch Mùa khô (1974 - 1975) ở Vĩnh Long
Sắp cuối mùa mưa của năm Giáp Thìn, một năm mưa nhiều, bão lớn, tạo ra thiên tai dồn dập. Ảnh hưởng nặng nề của cơn bão Yagi đối với các tỉnh miền núi phía Bắc chưa khắc phục trọn vẹn thì thông tin các cơn bão với sức gió cấp cuồng phong sắp vào Biển Đông và có thể đổ bộ vào miền Trung vào những ngày cuối tháng Mười âm lịch làm cho bà con cả nước thấp thỏm lo âu. Ở Vĩnh Long, triều cường gây ngập úng cục bộ, sạt lở nhiều nơi, ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt, sản xuất của bà con.
Mấy hôm nay sáng nào trời cũng âm u, mưa rỉ rả suốt. Ngồi tiếp Đoàn Vũ, anh bạn thời còn mặc áo lính, nay cũng là một Cựu chiến binh, bên tách trà nóng thơm mùi lá vối. Tôi lần giở những tài liệu đã ố vàng, loang lổ, những ghi chép vội vã của mình trong các cuốn tập học trò của quá trình tiếp xúc nhân chứng, tìm kiếm, sưu tầm tư liệu trước đây. Tôi cố gắng hệ thống lại những hoạt động của lực lượng vũ trang tỉnh nhà trong thời điểm này 50 năm trước theo yêu cầu của Vũ để anh viết bài tóm tắt truyền thống lực lượng vũ trang tỉnh chào mừng kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng là hướng tới 50 năm ngày giải phóng tỉnh nhà, giải phóng Miền Nam.
Tôi trải tấm bản đồ địa hình lên bàn, vừa nói:
- Trong binh pháp có câu “Biết địch, biết ta trăm trận trăm thắng”, các trường quân sự người ta thường dạy các người cầm quân là muốn tổ chức trận đánh, đầu tiên phải biết địa hình; tình hình địch; tình hình ta, tình hình bạn, tình hình nhân dân. Cho nên đầu tiên chúng ta xem địa hình tỉnh Vĩnh Long lúc bấy giờ.
Vũ nói:
- Địa bàn tỉnh Vĩnh Long của mình luôn có thay đổi để phù hợp yêu cầu nhiệm vụ theo từng thời gian, nhất là trong hai cuộc kháng chiến. Có lúc ta là một tỉnh, nhưng địch lại có hai tỉnh.
Kéo cây anten mà tôi lấy được từ cái máy radio cũ và biến nó thành “cây chỉ bản đồ” vừa gọn, vừa nhẹ cắm trong lon viết, tôi vừa chỉ vừa giải thích với Vũ:
- Hình thái chiến trường Vĩnh Long cuối mùa mưa 1974, có sự thay đổi lớn về địa bàn. Vào tháng Tám, tỉnh Vĩnh Long tách thị xã Sa Đéc, các huyện Châu Thành B, Lấp Vò, Sa Đéc thành lập tỉnh Sa Đéc. Địa bàn tỉnh Vĩnh Long còn lại thị xã Vĩnh Long, huyện Châu Thành A, sau đổi gọi là Châu Thành, Bình Minh, Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm, Cái Nhum với dân số toàn tỉnh 495.044 người.
Vũ chen ngang:
- Như vậy địa bàn tỉnh Vĩnh Long vào thời điểm này giống như địa bàn tỉnh Vĩnh Long ngày nay, chỉ khác tên gọi địa danh hành chánh. Nhưng ở đâu mà có số dân trong tỉnh chính xác đến từng người vậy anh.
- Đây là số dân do ngành trinh sát, quân báo nắm được, trong điều kiện chiến tranh nên con số chưa thật sự chính xác, nhưng là con số tương đối vì quân báo người ta nắm địch, nắm dân, phục vụ cho người chỉ huy hạ quyết tâm chiến đấu nên mình có thể tin được.
Tôi tiếp:
- Kết thúc mùa nước 1974, toàn tỉnh giành được thắng lợi rất lớn, thế và lực của cách mạng tiến triển theo chiều hướng đi lên. Lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, xã làm đòn xeo đưa phong trào cách mạng phát triển mạnh. Trong tỉnh có 27 đơn vị xã tự lực dùng 3 mũi gỡ được đồn bót, từ gỡ đồn nhỏ, phát triển lên gỡ được đồn cấp đại đội. Mũi binh vận làm chủ công mở được nhiều đồn bót vùng ven thị xã, thị trấn và tuyến giao thông chiến lược sông Măng Thít.
Vũ nói thêm vào:
- Anh nói kỹ hơn chỗ ba mũi và những điển hình của mũi binh vận làm chủ công như thế nào.
- Thế trận chiến tranh nhân dân của ta rất độc đáo, hình thức tiến công địch bằng hai chân tức là quân sự và chính trị và ba mũi là vũ trang, chính trị, binh vận. Đây là thế trận thiên la, địa võng, ở đâu cũng tiến công cả quân sự, cả chính trị, ở đâu cũng kết hợp ba mũi vũ trang, chính trị, binh vận. Điển hình là Ban Binh vận tỉnh có đội vũ trang binh vận, khi binh vận làm chủ công thì sử dụng đội vũ trang của mình kết hợp du kích địa phương thành mũi vũ trang, kết hợp quần chúng nhân dân đấu tranh chính trị, kết hợp cơ sở quần chúng đấu tranh binh vận và đã giành thắng lợi lớn trong đánh diệt đồn bót, mở mảng, mở vùng trên tuyến sông Măng Thít như ở xã Hòa Hiệp của Tam Bình, Tân An Luông của Vũng Liêm và Tân Long Hội của Cái Nhum.
Bây giờ nói về địch, anh xin mở ngoặc nói về từ “địch” một tí. “Địch” là từ tắt để chỉ lực lượng đối kháng trong bất kỳ loại hình đấu tranh nào. Trong chiến tranh ở Việt Nam, chúng ta gọi tất cả lực lượng của Mỹ và tay sai đều là địch. Nhưng ngày nay một số người có khuynh hướng không gọi là địch mà phải gọi là Quân đội Sài Gòn, Quân đội Mỹ vân vân và vân vân. Thôi thì chuyện này mình tạm hiểu là vậy.
Về địch – vừa nói tôi vừa chỉ trên bản đồ - đầu tháng Mười Một, địch thành lập lại Liên đoàn bảo an 941 gồm 3 tiểu đoàn 519, 466, 464, sở dĩ nói lập lại là vì Liên đoàn này bị thiệt hại nặng ở Chương Thiện, mới được đưa về củng cố lại; Liên đoàn 951 gồm 3 tiểu đoàn 456, 521, 444. Địch đang xúc tiến nâng 2 liên đoàn này thành trung đoàn với phiên hiệu Trung đoàn 64 và Trung đoàn 65 bộ binh biệt lập.
Vũ lại chen vào.
- Anh nói rõ thêm sao không giữ liên đoàn mà nâng lên trung đoàn vì chúng chỉ có tổng cộng 6 tiểu đoàn cơ động.
- Liên đoàn là sự kết hợp của 3 tiểu đoàn, có một ban chỉ huy chung nhưng mỗi tiểu đoàn có sự độc lập quyền lực riêng và liên đoàn không có các đơn vị trực thuộc của liên đoàn bộ. Khi phát triển thành trung đoàn độc lập, nó có các đơn vị binh chủng trực thuộc nằm trong trung đoàn bộ và có chỉ huy thống nhất với đầy đủ quyền lực để chỉ huy chiến đấu.
Lực lượng tiểu khu còn 3 tiểu đoàn cơ động phân tán là 467, 520, 443 và 4 tiểu đoàn phân tán chiếm đóng là Tiểu đoàn 469 ở Bình Minh, 468 ở Tam Bình, 458, 403 ở Trà Ôn. Tóm lại là lực lượng Tiểu khu Vĩnh Long có đến 13 tiểu đoàn bảo an.
Lực lượng chủ lực trên địa bàn thì ngày 12 tháng 11, địch thành lập Chiến đoàn 6 gồm 2 tiểu đoàn bộ binh (của Trung đoàn 12, Sư đoàn 7) và 2 tiểu đoàn thiết giáp M113. Bố trí ở Ngã ba An Nhơn (Vũng Liêm) 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 Ban chỉ Chiến đoàn, 2 khẩu pháo 105 li. Địch đưa chiến đoàn này về chủ yếu yểm trợ bình định vùng giáp ranh 2 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và tuyến giao thông chiến lược sông Măng Thít.
Đối với lực lượng cơ sở, địch đẩy mạnh quân sự hóa hành chánh xã ấp, đưa gần 300 sĩ quan, hạ sĩ quan về củng cố 55 phân chi khu, lấy lực lượng phòng vệ giữ xã, giữ đồn, đôn dân vệ lên bảo an, chủ lực, tăng cường bắt lính, về kinh tế ra sức vơ vét lúa mùa khô.
Để ly trà lên góc bàn, Vũ nói:
- Trước Chiến dịch Mùa khô, quân địch trên chiến trường Vĩnh Long còn rất mạnh, lực lượng cơ động của Khu 41 chiến thuật vẫn còn một sư đoàn bộ binh, một giang đoàn hải quân, một thiết đoàn M113 và lực lượng không quân sẵn sàng chi viện cho các tiểu khu khi cần thiết. Về phần tình hình lực lượng ta như thế nào anh?
- Về tình hình ta, ngày 28 tháng 10 năm 1974, Tỉnh đội Vĩnh Long tổ chức hội nghị mở rộng chuẩn bị chiến trường. Hội nghị do đồng chí Nguyễn Ký Ức, Bí thư Tỉnh ủy chủ trì. Hội nghị đánh giá cao thắng lợi của ta trong năm 1974, nhận định tình hình đánh giá khả năng địch, ta và quyết tâm thực hiện chiến dịch mùa khô 1974 - 1975 và đề ra chỉ tiêu đến tháng 6 năm 1975 giải phóng 25 xã, giải phóng cơ bản bốn huyện, giành lại hai phần ba đất đai, ba phần tư dân số, kéo lực lượng địch xuống 40 phần trăm không phục hồi được (tức còn khoảng 9.000 tên).
- Anh giải thích thêm giải phóng, giải phóng cơ bản là sao?
- Giải phóng là trên địa bàn đó không còn đồn bót giặc chiếm đóng, nhưng sau đó giặc chiếm đóng trở lại thì lại trở thành địa bàn bị chiếm đóng. Giải phóng cơ bản là đầu não của địch ở cấp đó vẫn còn, nhưng ba phần tư diện tích địa bàn đã được giải phóng.
Tôi tiếp:
- Lúc này Bộ chỉ huy Tiền phương Quân khu đang đứng chân vùng Lo Co nơi tiếp giáp Vĩnh Long,Trà Vinh để chỉ đạo chiến trường.
Tỉnh ủy và Quân khu giao cho Tỉnh đội Vĩnh Long là: đẩy mạnh tấn công nổi dậy, đánh bại bình định địch, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, chủ yếu là đánh quỵ lực lượng bảo an dân vệ đóng đồn bót, mở hàng mảng đồn bót, giải phóng đại bộ phận nông thôn tranh chấp, địa bàn chủ yếu nam bắc sông Măng Thít; mở lõm Bình Minh và mở phần lớn vùng ven, đưa thẳng bộ phận vùng kềm yếu thành vùng giải phóng, tạo điều kiện cho giai đoạn tới. Chuẩn bị mọi điều kiện xây dựng lực lượng, vật chất, căn cứ, rèn luyện lực lượng sẵn sàng tấn công vây ép dứt điểm thị xã, thị trấn khi có lệnh tổng tấn công.
Thực lực của ta tháng 11 năm 1974 ở tỉnh có: Quân số chiến đấu: 446 quân, gồm Tiểu đoàn 857, Tiểu đoàn 2, đại đội pháo, Đại đội Trinh sát, đặc công bộ, đặc công thủy, hai Đội vũ trang công tác, hai Đội vệ binh. Quân số bảo đảm: khoảng 380 người gồm Văn phòng, cơ yếu, giao thông công khai, thông tin, quản trị, chỉ huy, ba cơ quan Tham - Chính - Hậu và trường huấn luyện. Quân số ở cấp huyện gồm lực lượng địa phương 7 huyện thị xã là 626 quân, trong đó có 315 quân số chiến đấu. Cấp xã, du kích xã có 605, du kích ấp có 551, du kích mật 491.
Lực lượng Quân khu có Trung đoàn 3 đang đứng chân chiến trường Vĩnh Trà, có Tiểu đoàn 312 được Quân khu bố trí tuyến Tam Bình, Trà Ôn.
Về bố trí quân lực, Tiểu đoàn 857 vẫn còn đứng chân bắc Quốc lộ 4, mở lõm Bình Minh, Châu Thành B (của Sa Đéc), Châu Thành A của Vĩnh Long. Tiểu đoàn 2, đứng huyện Cái Nhum, lên tuyến sông Cổ Chiên ra thị xã Vĩnh Long.
Tỉnh ủy chỉ thị nhanh chóng đôn du kích thành lập tiểu đoàn tập trung (Tiểu đoàn 3), đồng thời bổ sung cán bộ và lực lượng cho chủ lực Khu đang đứng chân ở Vĩnh – Trà.
Rót thêm ly trà cho Vũ, tôi tiếp:
- Cuộc kháng chiến của nhân dân ta là chiến tranh nhân dân toàn dân toàn diện, phần trên chỉ là tương quan của lực lượng chiến đấu có vũ trang. Còn các lực lượng khác như an ninh vũ trang, binh vận, lực lượng các ngành, lực lượng cơ sở quần chúng, tôi chưa trình bày ra đây. Và một vấn đề nữa là chiến trường không ngày nào ngưng tiếng súng, do vậy để tạo thế cho chiến dịch, cả địch và ta đều có những hoạt động quân sự, vũ trang suốt trong tháng 11 để dẫn đến ngày N của cao điểm chiến dịch mùa khô 1974-1975. Hôm nay chúng ta dừng lại ở đây.
Tôi xếp tấm bản đồ, cùng Vũ chuyển sang những vấn đề khác với những câu chuyện trồng rau, nuôi cá vui thú ruộng vườn của hai cựu chiến binh già.



