Chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng biên giới mùa khô năm 1950.
Những năm 1948 - 1950 là khoảng thời gian mà bộ máy quân - dân - chính - đảng các cấp vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn, ra sức và kiên trì hoạt động về mọi mặt; là thời kỳ thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Bộ Thống soái tối cao, thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm tạo thế mới, lực mới để đón thời cơ chiến lược. Đó là thời kỳ quân và dân Việt Nam thể hiện cao độ tinh thần tự lực tự cường, quyết tâm vượt qua mọi thử thách để không những đứng vững trong cuộc chiến đấu không cân sức mà còn từng bước lớn lên về mọi mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, trong điều kiện chiến đấu giữa vòng vây của các thế lực đế quốc. Quãng thời gian hơn hai năm đó đánh dấu bằng bước trưởng thành vượt bậc của cả guồng máy kháng chiến nói chung và của lực lượng vũ trang nói riêng. Riêng về mặt quân sự, đó là thời kỳ hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích); thời kỳ phát triển về quy mô tổ chức của bộ đội chủ lực từ tiểu đoàn, trung đoàn lên đại đoàn; thời kỳ phát triển về quy mô tác chiến của Vệ quốc đoàn từ tiểu đoàn là phổ biến, tiến dần lên nhiều tiểu đoàn rồi trung đoàn; thời kỳ phát triển về hình thức chiến tranh từ chiến tranh du kích là chủ yếu tiến dần lên chiến tranh chính quy. Nhìn tổng quát, đó là thời kỳ chuyển hóa từng bước rõ rệt cả về thế và lực ngày càng có lợi cho ta, thời kỳ thế trận toàn dân đánh giặc hình thành và được củng cố ngày càng vững chắc. Sự nỗ lực của toàn quân, toàn dân đã tạo yếu tố quyết định đẩy chính quyền Pa-ri vào con đường suy yếu rõ rệt, đánh dấu bằng 8 lần (trong tổng số 12 lần) nội các Pháp thay nhau lập lên đổ xuống trong 5 năm đầu chiến tranh xâm lược Đông Dương 3. Chính sách “dùng người Việt đánh người Việt – lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” không cứu được quân viễn chinh Pháp đang ngày càng lún sâu vào tình thế bất lợi. Trước những khó khăn phản ánh sự bất lực của chính quyền Pa-ri, từ giữa năm 1950 đế quốc Mỹ bắt đầu can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Viện trợ của Mỹ ngay trong năm đầu (1950) đã chiếm chừng 1/5 tổng số chiến phí của Pháp ở Đông Dương (52/266,5 tỷ franc). Do sự can thiệp của Mỹ, cuộc chiến tranh Đông Dương trở thành một bộ phận trong chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ, trở thành một vấn đề quốc tế giữa hai phe trong cuộc xung đột chung giữa phương Đông và phương Tây. Nhân dân ta không chỉ chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược mà từ đây, cả thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đều đã trở thành đối tượng chính của cách mạng Việt Nam.
Chính trên cơ sở trưởng thành từng bước vững chắc của các ngành, các cấp trong guồng máy kháng chiến sau 5 năm chiến đấu trong vòng vây, mà chuyến đi công cán - đột phá ngoại giao - của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc và Liên Xô đầu năm 1950 đã giành được thắng lợi quan trọng: Lãnh đạo các nước bạn (trước hết là Liên Xô) đã hiểu và không còn ngộ nhận về đường lối kháng chiến của ta, chấp nhận viện trợ trên cơ sở công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khai thông về chính trị đối ngoại đã tạo điều kiện để khai thông biên giới. Đầu năm 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực nhằm thúc đẩy cuộc kháng chiến đang trên đà phát triển, góp phần trực tiếp chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng biên giới mùa khô năm 1950.



