Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Chuẩn bị và mở màn Điện Biên Phủ

Đầu năm 1954, Bộ Chỉ huy chiến dịch quán triệt phương châm “đánh chắc tiến chắc” để chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Quân ta gấp rút làm đường, xây trận địa pháo, đào hệ thống chiến hào bao vây và bảo đảm hậu cần lớn từ hậu phương. Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng mở màn, lần lượt tiêu diệt các cứ điểm như Him Lam và Độc Lập, mở đầu thắng lợi của chiến dịch. Sau đó quân ta tiếp tục siết chặt vòng vây, đánh chiếm các cao điểm quan trọng như Đồi A1, từng bước làm suy yếu toàn bộ tập đoàn cứ

Lai Châu07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 7 tháng 2, sau Tết Quý Tỵ, Bộ Tổng Tham mưu triệu tập hội nghị cán bộ để quán triệt phương châm tác chiến mới “đánh chắc tiến chắc” và tiến hành công tác chuẩn bị chiến đấu. Anh Văn thay mặt Quân ủy chúc Tết toàn quân. Sau khi khen ngợi các đơn vị kéo pháo ra an toàn, thông báo quyết định của Bộ Chính trị phê chuẩn chủ trương tác chiến mới của Đảng ủy chiến dịch và hậu phương sẽ dốc sức chi viện tiền tuyến, thông báo tin thắng lợi trên các chiến trường toàn quốc, anh Văn chỉ thị các công tác lớn như sau:

- Tổ chức làm đường cơ động cho pháo, tổ chức trận địa pháo thật kiên cố.

- Xây dựng trận địa tiến công.

- Chuẩn bị bộ đội về sức khỏe, quân số chiến đấu, chiến thuật, kỹ thuật, nhất là xây dựng trận địa và hiệp đồng bộ - pháo.

- Chuẩn bị hậu cần vật chất.

Anh Thành họp giao nhiệm vụ cho các cơ quan và trực tiếp chỉ đạo làm đường, làm trận địa cho pháo và xây dựng trận địa tiến công.

Dưới sự chỉ đạo của anh Thành, công binh và bộ đội làm nhiều tuyến đường tổng số lên đến 70 ki-lô-mét, qua các khe sâu có cầu vững chắc bảo đảm xe pháo cơ động cả mùa mưa lũ có ngụy trang cẩn thận địch không phát hiện được.

Tôi và cán bộ chỉ huy pháo cùng đi tìm đường và trận địa pháo. Tôi dựa vào bản đồ (bây giờ đã có), địa bàn, chấm trước trên bản đồ những điểm có thể chọn làm trận địa. Những điểm đó ở sườn đồi hướng về phía địch để thấy rõ mục tiêu ở cự ly bắn tốt, độ dốc không lớn lắm. Sau đó, chúng tôi phát cây đạp đường lên đến lên đến điểm đã định, kiểm tra thực tế đặt được pháo rồi, từ đó lần trở lại theo đường dốc thoải trải ra đường trục. Từ đó pháo binh đã chuẩn bị trận địa, xây hầm có nắp rất chắc, có cửa bắn rộng đủ kiểm soát hết các mục tiêu, xây hầm đạn kiên cố riêng, xây hầm chắc chắn khô ráo cho pháo thủ nghỉ ngơi, tất cả đều ngụy trang cây xay rất kín, ngoài ra còn làm trận địa nghi binh. Điều đó đã làm cho địch phải hết sức bất ngờ làm cho Pi-rốt chỉ huy pháo binh của địch phải tự sát vì không thể phát hiện được trận địa của ta để kiềm chế có hiệu quả như hắn đã huênh hoang trước trận đánh.

Việc kéo pháo ra cũng rất gian nan ác liệt như kéo pháo vào. Cũng có thương vong, đồng chí Tô Vĩnh Diện hy sinh khi lấy thân mình chèn khẩu pháo 37mm khỏi lăn xuống vực, sau được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng khi vào trận địa rồi thì cán bộ chiến sĩ đều vui mừng và rất tin tưởng ra quân lần đầu sẽ làm nên chuyện. Pháo binh đã sáng tạo được một cách đánh mới có hiệu suất cao.

Anh Thành rất coi trọng công tác xây dựng trận địa. Bước đầu anh chỉ đạo các đại đoàn tập trung làm trận địa tiến công nhằm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo là các mục tiêu tiến công đợt đầu. Quá trình làm ta phải tranh chấp quyết liệt với địch, đào rồi lại bị lấp, phải tổ chức và bảo vệ trận địa quyết liệt mới giữ cho được đến khi tiến công.

Công tác bảo đảm hậu cần rất nặng nề, khối lượng tăng gấp ba bốn lần so với trước. Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương, nhân dân hậu phương nô nức góp lương thực, huy động xe cộ, phương tiện, dân công, thanh niên xung phong làm đường, bổ sung quân số cho bộ đội… Trên mặt trận, Tổng cục Cung cấp có sáng kiến huy động các phó cối làm cối xay tại chỗ; huy động tại chỗ trong bốn huyện Tuần Giáo, Điện Biên, Quỳnh Nhai, Thuận Châu, được 7.500 tấn gạo, 3.000 tấn thịt. Đường vận chuyển được tăng cường vũ khí phòng không ở trọng điểm, tăng cường thanh niên xung phong làm rất nhiều đường tránh như mạng nhện. Nhờ đó, mặc dù địch tăng cường đánh phá, đánh bằng đường này ta đi vòng đường khác, nên đường vận chuyển luôn thông suốt. Hậu cần đã bảo đảm đủ dự trữ đến mùa mưa…

*
* *


Mọi việc chuẩn bị theo đúng kế hoạch đã gần đến ngày nổ súng. Ngày 11 tháng 3, có thư động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác căn dặn: “Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ của các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang… Chúc các chú thắng to”.

Tiếp đó có thư của Đại tướng Tổng Tư lệnh viết; “Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Chiến dịch này là chiến dịch công kiên quy mô lớn nhất trong lịch sử quân đội ta từ trước đến nay… Giờ ra trận đã đến. Tất cả cán bộ và chiến sĩ, tất cả các đơn vị, tất cả các binh chủng hãy dũng cảm tiến lên thi đua lập công giật lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Sáng ngày 13 tháng 3, theo chế độ quy định của Bộ Tham mưu chiến dịch thì trong những ngày có tác chiến lớn, các đồng chí trưởng ban của chiến dịch (thực tế là các đồng chí cục trưởng) làm trực ban chính, cán bộ tác chiến làm phó, nhưng mọi người trong ban tác chiến đều có mặt vì ngày trọng đại chờ đợi mấy tháng nay đã đến. Anh Văn dậy sớm hơn thường lệ, sáng sớm đã đến chỗ trực ban kiểm tra. Anh Trần Văn Quang báo cáo tin tức mới nhận được, mọi việc theo đúng kế hoạch, đồng chí nhắc đến các việc cần đôn đốc kiểm tra trước giờ nổ súng. Chúng tôi chia nhau đi làm việc, ai cũng vui vẻ, phấn khởi cố làm công việc được giao cho xong hoàn hảo để về kịp vào giờ nổ súng, nô nức chờ đón, hy vọng trận mở màn thắng lợi giòn giã, nhất là hồi hộp chờ xem “thần chiến tranh” của ta xuất hiện bất ngờ sẽ làm cho địch sợ hãi thế nào, ta sẽ áp đảo chúng ra sao.

Trận Him Lam mở màn thắng lợi giòn giã làm cho Bộ chỉ huy và cơ quan hả lòng hả dạ. Tiếp đến trận Độc Lập. Cả hai trận địch đưa xe tăng bộ binh có phi pháo yểm hộ ra phản kích đều bị đánh lui. Trung đoàn 36 có sáng kiến dùng địch vận gọi địch hàng nên chiếm Bản Kéo không tốn một viên đạn. Chỉ trong năm ngày đầu chiến dịch, ta đã diệt và chiếm ba “Trung tâm đề kháng” vòng ngoài do ba tiểu đoàn của địch chiếm giữ, áp sát được khu trung tâm của địch, hoàn thành xuất sắc đợt một chiến dịch

Để chuẩn bị đợt hai, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương đào trận địa bao vây và chĩa các mũi vào sát các mục tiêu để khi đột phá khỏi bị phi pháo chặn đường tiến và tránh bị sát thương nhiều. Anh Thành trực tiếp chỉ đạo làm mẫu: chiến hào, giao thông hào có đường trục đường nánh, các ụ súng, các trận địa hỏa lực…, xác định kích thước cụ thể chiều sâu, chiều rộng, khối lượng, thời gian. Anh cho vẽ một sơ đồ các đường hào bao quanh Điện Biên Phủ, các đường hào chĩa thẳng vào các mục tiêu. Sau đó, anh giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị, định thời gian hoàn thành và bồi dưỡng kỹ thuật cho cán bộ rồi bắt đầu thực hiện. Anh còn chỉ đạo sắp xếp thời gian công tác cho hợp lý: sáng nghỉ ngơi, chiều chuẩn bị dụng cụ vật liệu rồi làm trận địa cả đêm cho đến sáng. Sự chỉ đạo sát sao của anh đã giúp đơn vị làm đạt năng suất cao, đạt và vượt mức thời gian. Quá trình làm trận địa, các đơn vị căn cứ yêu cầu chiến đấu và sinh hoạt của mình đã có sáng kiến làm thêm các công trình phụ, như: làm những đoạn có nắp, làm hàm ếch để tiện chuyển thương và tránh đạn và mảnh đạn dọc đường hào, làm các râu với ụ súng để tiện đánh địch phản kích, đến khi trời mưa thì làm thêm hầm có che mưa khô ráo để nghỉ ngơi tại trận địa…

Được phân công theo Đại đoàn 308, tôi đã nhiều lần xuống đơn vị kiểm tra, theo cán bộ đi ra các mũi lên phía trước, có mũi vào gần hàng rào, gần sân bay. Nhiều lần địch phản kích, ta đều đánh lui và giữ vững trận địa. Bộ đội làm rất tích cực, càng thấy tác dụng của trận địa, anh em càng hăng say đào quên mệt nhọc. Lúc đào gần cứ điểm, Trung đoàn 36 có sáng kiến làm xe lăn bằng rơm chống đạn thẳng, mở ra khả năng có thể đào sâu vào trong rào và vào sát sân bay, có thể khống chế được sân bay, từ đó sẽ có tác dụng rất lớn. Đến ngày 29 tháng 3, các đơn vị đã hoàn thành theo chỉ tiêu kế hoạch.

Chủ trương của đợt hai là: Tập trung ưu thế tiêu diệt các vị trí phía Đông Điện Biên Phủ là chủ yếu, chiếm các cao điểm khống chế biến thành trận địa của ta để uy hiếp Mường Thanh, tạo điều kiện chuyển sang tổng công kích diệt toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm.

Chiều 30 tháng 3, đợt hai của chiến dịch bắt đầu. Trên hướng Đông là hướng chính, ta chiếm được E, D1, D2, chiếm C1 phát triển sang C2 và một phần A1. Trên hướng Tây, Trung đoàn 36 diệt cứ điểm 106, bức hàng Công Na.

Qua ngày 31 tháng 3, địch phản kích chiếm lại một phần A1 và C1. Từ đêm 31 tháng 3, Bộ chỉ huy cho Trung đoàn 102 và đánh A1, đánh đi đánh lại nhiều lần vẫn bị lực lượng địch được pháo binh chi viện phản kích chiếm lại, ta chỉ giữ được một phần A1, C1. Ngày 4 tháng 4, trước tình hình cán bộ trực tiếp chỉ huy đã nỗ lực hết sức với tinh thần trách nhiệm và dũng cảm rất cao, bộ đội thương vong đã cao, mặc dù chưa đạt yêu cầu của đợt hai, Anh Văn đã ra lệnh cho kết thúc đợt hai, cho Trung đoàn 174 giữ phần còn lại của A1, Trung đoàn 102 rút ra củng cố rút kinh nghiệm.

Tôi nhớ hồi cuối chiến dịch Tây Bắc, khi ta đang thắng lớn, chỉ còn tập đoàn cứ điểm Nà Sản, bộ đội mấy ngày tiến công không thành công mà số thương vong đã cao, ta đánh chiếm được một số cứ điểm đêm trước thì ngày hôm sau địch chiếm lại, ta không có điều kiện để dứt điểm, anh đã kiên quyết kết thúc chiến dịch trong lúc cán bộ còn háo hức muốn đánh tiếp. Tôi hiểu anh với trọng trách của mình luôn cân nhắc nghiêm túc cái giá của thắng lợi và hết sức quý trọng sự hy sinh xương máu của chiến sĩ và biết tạm dừng chiến đấu đúng lúc để chuẩn bị điều kiện cho trận chiến đấu tiếp sau thắng lợi giòn giã hơn.

Tôi làm trực ban, nghe Trung đoàn 174 báo cáo ở A1 có đường hầm ngầm, bộ binh và xe tăng địch theo đường ngầm lên phản kích, phải tìm ra cửa hầm ngầm mới đánh bại phản kích của địch để giữ A1 được. Tôi suy nghĩ thấy không có lý, được biết ngày xưa có ngôi nhà làm kiểu Pháp ở trên ngọn đồi A1 có thể còn hầm rượu của nhà đó chứ không thể có đường hầm ngầm được. Tôi đã nêu vấn đề cho trực ban của đại đoàn là nên hướng dẫn tìm cách khống chế đường địch có thể lên phản kích từ sườn đồi phía địch, không nên mất thì giờ tìm cửa hầm ngầm để lỡ thời cơ đánh phản kích. Tôi cũng đã báo cáo vấn đề này cho Bộ Tham mưu chiến dịch khi bàn giao trực ban ngày hôm sau, nhưng đồng chí chỉ huy Trung đoàn 174 vẫn khăng khăng là địch có hầm ngầm. Do đó, đồng chí Hùng Sinh – Trung đoàn trưởng 102, mới vào thay, chưa nắm chắc địch, vẫn đi theo “vết xe cũ” và gặp khó khăn.

Ngày 6 tháng 4, Bộ Tham mưu triệu tập cán bộ từ trung đoàn trở lên dự hội nghị sơ kết đợt hai. Anh Văn sau khi nghe các đơn vị báo cáo đã kết luận: Thắng lợi vừa qua rất lớn, đã tiêu diệt bốn cứ điểm phía Đông, tiêu diệt và bức hàng hai cứ điểm phía Tây, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch. Nguyên nhân thắng lợi do chủ trương, phương châm và kế hoạch chính xác. Nhưng ta chưa hoàn thành yêu cầu của đợt hai. Thắng lợi bị hạn chế do một số cán bộ phạm khuyết điểm nghiêm trọng về chiến thuật, về tinh thần trách nhiệm, về nắm địch, về tập trung binh hỏa lực không đủ…

Thực tế ta không tiêu diệt được A1 một phần do khuyết điểm về tổ chức trinh sát không tỷ mỷ ở phía sau A1. Tại đây địch có một giao thông hào đi từ khu trung tâm lên A1, bảo đảm an toàn cho các đơn vị địch phản kích mà ta không phát hiện được. Sau khi đánh thắng, anh Văn đi thăm lại chiến trường, đã lên xem lại đồi A1, tôi đã trình bày cho anh thấy không có hầm ngầm nào cả, chỉ có một giao thông hào từ chân đồi lên mà thôi!

Kết quả đánh C1 cũng ảnh hưởng lớn đến A1. Ngày đầu (30 tháng 3), Trung đoàn 98 chiếm C1 đã có thời cơ phát triển chiếm C2 là nơi xuất phát phản kích của địch, nhưng lại cho thay đơn vị vào lúc địch đã kịp chế áp pháo và cho lực lượng lên phản kích đánh chiếm lại C1. C2 là nơi địch để lực lượng sẵn sàng và lập sở chỉ huy phản kích ở hướng Đông.

Mặc dù đợt hai gặp khó khăn, không đạt hết các yêu cầu đề ra, nhưng với ý chí quyết tâm không lay chuyển, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch do anh Văn làm Bí thư kiêm chỉ huy trưởng đã dành thời gian dài nhất, gần một nửa thời gian toàn chiến dịch để làm công tác chuẩn bị đợt ba mà nội dung chủ yếu là hoàn thành các yêu cầu còn lại của đợt hai, tạo điều kiện chuyển sang tổng công kích tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm.

Trước hết, ta tiến hành sinh hoạt chính trị, rút kinh nghiệm, củng cố bộ đội về mọi mặt, huấn luyện bổ sung cho cán bộ, bộ đội huấn luyện tân binh, bổ sung quân số, nâng trình độ, sức khỏe và sức chiến đấu của bộ đội.

Mặt khác, ta tiếp tục phát triển trận địa vào sát các cứ điểm của địch, vào sát sân bay, tiến tới cắt sân bay, vừa vây chặt địch, vừa khống chế tiến đến cắt tiếp tế, cắt chuyển thương bằng đường không, gây cho địch nhiều khó khăn. Đồng thời, ta tăng cường đánh nhỏ bằng nhiều hình thức: diệt từng cứ điểm nhỏ có điều kiện, bắn máy bay, luồn sâu đánh kiểu biệt kích, đánh quân nhảy dù, bắn tỉa, địch vận, cướp dù lấy tiếp tế cải thiện cho bộ đội, lấy đạn pháo cối bổ sung cho pháo binh… trên thực tế, trong thời gian này, thế và lực của ta trở nên mạnh hơn hẳn địch.

Trong thời gian chuẩn bị đợt ba, ngày 12 tháng 4, ta tiến công A1, phát triển thêm một bước. Địch điều hai tiểu đoàn dù phản kích ta ở A1, bị ta diệt ba đại đội, phá hủy hai xe tăng, hai pháo 105mm. Ta giết và làm bị thương 600 tên, nhưng ta không chiếm giữ rộng hơn để giữ được trận địa.

Về trận đánh ngày 2 tháng 4, Trung đoàn 36 đánh lấn chiếm được cứ điểm 106, sáng tạo ra một cách đánh mới. Trung đoàn tích cực đào hào sát rào, rồi đào vào trong rào, vừa đào vừa phá rào sát lô cốt, sau chiếm luôn lô cốt địch. Địch phản kích, ta đánh lui rồi mở rộng bàn đạp. Tôi trực ban nghe báo cáo như vậy, tôi rất mừng. Tôi khuyến khích trực ban của trung đoàn xem có điều kiện thì phát triển dứt điểm luôn. Mấy chục phút sau thấy tiếng súng nổ rộ lên ở hướng này. Các anh hỏi, tôi báo cáo ngay có khả năng Trung đoàn 36 đánh lấn sắp dứt điểm rồi. Quả nhiên như vậy, một lúc sau tiếng súng ngớt và Trung đoàn 36 báo cáo đã diệt và chiếm được cứ điểm 106; tiếp đó lại báo cáo là đã bức hàng Căng Na, bắt tù binh, thu toàn bộ vũ khí. Trung đoàn chiến đấu cơ động linh hoạt đã có truyền thống. Anh Văn nghe báo cáo đã công nhận là Trung đoàn 36 đã sáng tạo một hình thức chiến thuật mới và khen ngay. Sau đó, từ ngày 22 đến 28 tháng 4, Đại đoàn dùng cách đánh lấn diệt năm cứ điểm phía Tây và Tây Nam(1), có cứ điểm Nà Noọng cách sở chỉ huy của Đờ Cát 300 mét. Đến thời gian này, trận địa đã vây ép chặt gần sát sở chỉ huy của địch, rồi cắt luôn sân bay, phát huy các hình thức đánh nhỏ tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch, gây cho địch vô cùng khốn đốn, mất hết sức chiến đấu.

Trong sách “Chúng tôi đã ở Điện Biên Phủ” Giăng Pê-gốt: “Bên cạnh ba bốn nghìn thương binh chất đống trong hầm (bệnh viện dã chiến chỉ chuẩn bị cho 40 thương binh chưa chuyển đi được), ba bốn nghìn quân đào ngũ chui rúc, ẩn nấp trong các ổ chuột, chỉ còn lại có bảy nghìn quân chiến đấu kiệt sức, thiếu tổ chức, thiếu trang bị”.



Nhiệm vụ đợt ba là hoàn thành phần còn lại của đợt hai. Yêu cầu hướng Đông phải đánh chiếm các cao điểm còn lại, chủ yếu nhất là A1, tiến sát bờ sông Nậm Rốm, hướng Tây đánh chiếm các cứ điểm ở Tây Bắc, Tây và Tây Nam sở chỉ huy của địch.

Để bảo đảm đánh thắng A1, Bộ Tham mưu đã cử cán bộ cùng với đơn vị đi trinh sát kỹ A1 đã phát hiện giao thông hào phía sau A1. Đơn vị đã có kế hoạch cho một bộ phận chiếm giữ giao thông hào để cắt đường phản kích của địch, khi ta tiến công A1. Đồng thời Bộ tham mưu hướng dẫn cho Đại đoàn 316 tổ chức một phân đội công binh hỗn hợp của Bộ và Đại đoàn đào một đường hầm vào sát hầm nhà trên đồi A1, dùng 1.000 ki-lô-gam bộc phá để phá.

Đến khi đã bị khốn quẫn, Na-va đã cho tổ chức cuộc hành quân Chim ưng (Condor), cho lực lượng ở Lào sang phá vây nhưng bị ta chặn đánh cho thất bại và tháo chạy. Cuối cùng chúng buộc phải cho mở cuộc hành quân “Chim hải âu” (Albatros) cho Đờ Cát tự rút chạy sang Lào thì đúng lúc ta bắt đầu tiến công đợt ba.

Từ ngày 1 tháng 5 năm 1954, ta đánh liên tục mấy ngày liền, diệt ba cứ điểm phía Đông gồm có C1, 505, 505A sát sông Nậm Rốm, hai cứ điểm phía Tây và khu C ở Hồng Cúm. Đêm 6 tháng 5, lợi dụng khi địch bị choáng váng bởi quả bộc phá ở A1, Trung đoàn 174 đã nhanh chóng tiêu diệt A1 là cái chìa khóa cuối cùng của tập đoàn cứ điểm. Trung đoàn 98 tiêu diệt C2, sở chỉ huy và lực lượng phản kích phía Đông của địch; Trung đoàn 102 tiêu diệt cứ điểm 310 “Con mắt của khu trung tâm”, áp sát sở chỉ huy của Đờ Cát phía Tây Nam; Trung đoàn 209 tiêu diệt các cứ điểm 507, 508, 509, áp sát bờ sông Nậm Rốm và sở chỉ huy của Đờ Cát ở phía Đông. Các đơn vị đều đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn