CHUNG MỘT CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG
Cuộc đời mỗi người có một con đường đi. Nhưng 9 người con của Mẹ Lê
Thị Nở - người mẹ Việt Nam anh hùng đã chọn một con đường, một mục đích cao
cả là giải phóng dân tộc thống nhất Tổ quốc.
Mẹ Lê Thị Nở cùng các con sinh ra và lớn lên ở mảnh đất xóm Chùa, xã
Quốc Tuấn, huyện An Lão. Những năm đầu thế kỷ 20 và trong kháng chiến chống
Pháp, xóm Chùa nằm trong vùng tề. Ruộng đất ở đây là của bọn địa chủ, cường
hào. Cả xóm không có một ngôi nhà mái ngói. Mẹ Nở và các con của mẹ sống
trong túp lều tranh vách đất, lụp sụp ngoài rìa làng. Suốt cuộc đời mẹ luôn nhận
phần vất vả về mình. Suốt bao năm tháng mẹ hết “bán mặt cho đất, bán lưng cho
trời”, đổ mồ hôi, sôi nước mắt, cấy thuê, cuốc mướn cho địa chủ, chánh tổng, lý
trưởng, lại ngồi thâu đêm xay bột làm bánh đúc. Bánh đem bán ngoài chợ. Các con
của mẹ cậy cháy bánh ăn thay bữa sáng. Trong mẹ, cái đói, cái khát đã nung nấu
lòng căm hờn quân cướp nước và bè lũ tay sai bán nước cùng chế độ phong kiến hà
khắc. Mẹ luôn ao ước, có một sức mạnh kỳ diệu để lật nhào chế độ thối nát đó, để
gia đình mẹ và bao gia đình khác ở đây bớt cảnh lầm than, đói rách. Ước ao đó, mẹ
chỉ nói được với các con, tự động viên mình vượt qua khốn khó, nuôi dạy con
trưởng thành và bảo ban các con sống phải biết vì nghĩa lớn, trọn vẹn với xóm
làng.
Cách mạng về. Các con của mẹ lần lượt lên đường tham gia hoạt động cách
mạng, vào du kích, làm giao thông liên lạc cho cách mạng. Hai người con gái của
mẹ là Nguyễn Thị Lẫm, Nguyễn Thị Múi, đi lấy chồng cũng tham gia hoạt động. Ở
giữa vùng tề, gia đình hai chị đã trở thành cơ sở cách mạng vững vàng. Anh em du
kích, cán bộ thường xuyên qua lại, hội họp bàn tính đánh Tây, diệt ác. Quân Pháp
kéo về ngày một đông hơn. Bọn tề ngụy, Việt gian phản động hoành hành. Bọn địa
chủ, cường hào, ác bá ỉ thế hà hiếp mạnh hơn. Cái làng Chùa nhỏ bé là thế mà suốt
ngày bọn chó săn rình mò. Nhà mẹ Nở có nhiều con tham gia cách mạng là đối
tượng chúng “chăm sóc” kỹ nhất. Chúng thường tra khảo mẹ về hành tung của các
con mẹ. Mẹ nín lặng, ngước mắt nhìn trời xanh, những mong ông trời chứng kiến
cho tấm lòng yêu con da diết, son sắt với cách mạng, trọn nghĩa vẹn tình với dân
làng, quê hương. Đêm đêm, cứ nghe tiếng chó sủa trong làng, ngoài xóm, lòng mẹ
thắt lại, bồn chồn, hết nằm lại ngồi dậy, cầu mong những đứa con luôn luôn chân
cứng, đá mềm, thoát khỏi cặp mắt cú vọ của bọn việt gian vẫn rình rập đâu đây.
Những đêm như thế mẹ thức trắng, thao thức cùng ngọn đèn dầu xanh ngắt, nhỏ
như con đom đóm. Cả đời mẹ không có phút giây thảnh thơi, không được hưởng
bao giờ. Ngày tết, ngày hội mẹ đâu có yếm đào, áo thắm xênh sang, mà quanh năm
tứ mùa, mẹ vẫn khoác trên người chiếc áo nâu loang mồ hôi từng khoảng, chiếc
quần thâm đất vá chằng, vá đụp. Tháng năm đen tối đó, cùng với nỗi truân chuyên,
làm lụng vất vả, lo nghĩ về các con đã làm mẹ héo hon sức khỏe, mỏi mòn đôi mắt
đợi chờ. Mẹ mất trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công và ở tuổi 43. Vậy là
mẹ không được hưởng cái ước ao giản đơn: người cày có ruộng, không được
chứng kiến không khí tưng bừng, hò reo đón mừng cách mạng thành công. Cuộc
đời mẹ chưa một giây được làm người dân của một nước Độc lập. Mẹ mất, chỉ có
bà con xóm làng bên mình và hai cô con gái khâm niệm. Cuộc đời mẹ không hóa
đá trở thành tượng thờ như truyền thuyết xưa, nhưng mẹ luôn được tạc vào tâm
khảm mỗi con người đã sống và hiện đang sống trên mảnh đất xóm Chùa yêu dấu
này.
Thắp nén hương thơm tưởng nhớ mẹ và 6 người con của mẹ (trong đó có 5
người là liệt sĩ, một người là tử sĩ) đã khuất bóng 40-50 năm nay, lòng chúng tôi
dâng trào niềm kính trọng và biết ơn sâu sắc sự đóng góp to lớn đó của mẹ và các
con mẹ đã ngã xuống vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân. Trong phút
giây xúc động đó, ông Nguyễn Văn Sáu - người con thứ 6 của mẹ, người du kích
núi Voi - người giao thông cho cách mạng từ năm 1946, nay đã ở tuổi 70 kể lại.
Năm 1932 anh cả tôi là Nguyễn Văn Nghiễm, lúc đó vừa tròn 12 tuổi đã tham gia
cách mạng. Tháng 4 năm 1950, anh tổ chức giết thằng Bang Tá tại gia đình nhà em
gái (bà Lẫm) ở thôn Bạch Câu. Giết được nó, anh và đồng đội đánh lui địch mấy
lần. Anh Nghiễm bị thương đã tình nguyện ở lại thu hút địch để đồng đội rút an
toàn. Anh hy sinh oanh liệt khi ở tuổi 32. Vào khoảng năm 1934 - 1935, anh Trang
cũng tham hoạt động cách mạng, sau đó vào bộ đội. Anh bị thương, trở về làng và
tiếp tục tham gia hoạt động, làm công an xã. Trong một trận chiến đấu suốt từ 18h
- 20h, địch đến vây làng hòng diệt gọn tổ chức cộng sản ở đây và xóa sổ truyền
thống cách mạng, anh cùng với du kích địa phương đánh trả địch quyết liệt đến
viên đạn cuối cùng. Anh đã anh dũng hy sinh vào cái đêm hôm đó của năm 1950.
Người con thứ 3 của mẹ là Nguyễn Văn Năm tiếp tục làm cách mạng. Anh vào bộ
đội du kích núi Voi. Anh được phân công làm nhiệm vụ bảo vệ khu hầm bí mật
của huyện ủy An Lão (thời kỳ đồng chí Lê Vân làm bí thư). Anh bị địch bắt trong
một cuộc tấn công vào khu căn cứ. Địch tra tấn, đánh đập anh rất dã man, anh vẫn
kiên quyết không khai. Sống đi chết lại nhiều lần và bị địch kéo lê khắp thôn Bạch
Câu cũng không khai thác được gì ở anh. Chúng đã giết anh, vùi xác anh vào đống
bòng bong. Năm đó anh mất vừa tròn 24 tuổi và cũng vào năm 1950. Anh Nguyễn
Văn Dần, tham gia du kích. Năm 1951, thực hiện nhiệm vụ chở vũ khí để đánh đồn
Ruồn, chẳng may anh lọt vào ổ phục kích của địch. Anh đánh trả dữ dội, nhưng do
lực lượng ta mỏng, anh đã anh dũng hy sinh. Năm 1954, trong chiến dịch đánh
địch ở mặt trận Hà Nam, người chiến sĩ cách mạng “anh bộ đội Cụ Hồ” Nguyễn
Văn Dần đã ngã xuống.
Hòa bình lập lại, gia đình mẹ Lê Thị Nở còn lại 3 người con, túp lều tranh
rìa làng của mẹ không còn. Bà con, làng xóm vô cùng thương tiếc những người
con của mẹ, cảm phục các anh đã không tiếc máu xương, hiến dâng cả tuổi thanh
xuân của mình, góp công to lớn giải phóng quê hương. Ngôi nhà hôm nay chúng
tôi đến thắp hương mẹ, mà ông Sáu đang làm phận sự hương hỏa của gia đình
được làm trên mảnh đất mới được chia năm 1958. Đó mới thực sự là mảnh đất có
tên của ông Sáu, cũng là mảnh đất của mẹ, các anh ông đã giành từ tay bọn địa
chủ, cường hào. Một mảnh đất phải đổi bằng xương và máu. Chúng tôi cảm nhận
sâu sắc điều đó. Và hình như đêm đêm tiếng đất vẫn vẫn rì rầm kể lại sự tích của
ngày xưa. Nghe ông Sáu kể, lòng chúng tôi trào dâng niềm thành kính mẹ và các
anh chị em của ông. Chúng tôi càng thấm thía 8 chữ: “Độc lập - Tự do - Cơm áo -
Hòa bình”, giá trị biết bao nhiêu của cuộc đời mỗi con người, mỗi dân tộc.
Xóm Chùa của mẹ Nở, “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” giờ đây đã khác nhiều.
Những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi thấp thoáng dưới hàng cau thẳng tắp, xen lẫn
ngôi nhà mái đổ bê tông hai tầng, xinh xắn. Con đường liên xã Quốc Tuấn - Tân
Viên đã được rải nhựa phẳng lỳ chạy tít tận bờ sông Văn Úc. Hàng phượng vĩ lập
lèo thắp sáng dưới nền trời xanh hòa bình nồng thắm. Gió thổi rì rào trên cánh
đồng lúa, tạo thành con sóng nhỏ, reo vui, ngợi ca những anh hùng, liệt sĩ đã ngã
xuống vì mảnh đất thân yêu này, trong đó có những người con thân yêu của mẹ
đồng hành trên con đường cách mạng. Gia đình mẹ trở thành điểm sáng trong
truyền thống yêu nước và cách mạng của dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh,
rực rỡ tên vàng.



