Chúng tôi đều từng được “truy điệu sống”
Chúng tôi đều từng được “truy điệu sống”
Tôi gặp bà Bùi Thị Vân, nguyên là Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1 của đội nữ lái xe Trường Sơn khi bà vừa tham dự chương trình “Ký ức màu cờ” của Đài Truyền hình Việt Nam. Người phụ nữ hơn 70 tuổi, từng trầm cảm nặng vì sự ra đi của người chồng – vốn cũng là một anh lái xe ở Trường Sơn, phải thường xuyên dùng thuốc chống trầm cảm, thế nhưng trong ký ức của bà, những câu chuyện gắn liền với các chuyến xe trên cung đường đầy bom đạn lại rõ ràng, mạch lạc như những thước phim quay chậm, từng chi tiết nhỏ đều được ghi nhớ rõ ràng.
Giống như nhiều đồng đội khác, bà Vân đi thanh niên xung phong từ 16 tuổi. Sau ba năm chuyên san lấp hố bom bà được binh trạm 12 cho đi học lái xe. “Lúc ấy sướng lắm, dù học cực lắm. Tôi phải đệm một cái chăn dưới ghế cho đủ độ cao, lại chèn một cái can 20 lít sau lưng để có thể đẩy người phù hợp với độ cao vô lăng. Học tất cả 45 ngày, sau đó cứ hai người một xe, hoặc là Zin130, hoặc là Gaz 51, Gaz 69… ngày nào cũng đi đi về về hơn trăm cây số đường núi, bom cày liên miên”, bà nhớ lại.
Về đội lái huyền thoại này, Thiếu tướng - AHLLVT Nguyễn Bá Tòng, nguyên Phó Tư lệnh chính trị Binh đoàn 12 cho biết: Năm 1968, trên tuyến đường Trường Sơn, đế quốc Mỹ huy động lực lượng lớn máy bay đánh phá các con đường trọng điểm, nhằm ngăn chặn mọi sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Nhu cầu cung cấp nhân lực, vật lực cho miền Nam càng trở nên cấp bách, lái xe nam không đủ, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 giao nhiệm vụ cho Binh trạm 9, Binh trạm 12 tuyển gấp một số nữ thanh niên xung phong, lập đội lái xe vận tải tuyến hậu phương để hỗ trợ các khu vực cửa khẩu.
Trung đội đảm nhận vận tải hàng hóa, lương thực, thực phẩm, thuốc men cho chiến trường miền Nam; đưa thương binh, bệnh binh, cán bộ từ chiến trường ra miền Bắc điều dưỡng, học tập…, với tuyến hoạt động chủ yếu từ Bến Thủy (Nghệ An) đến Tây Trường Sơn, trong đó có nhiều trọng điểm địch đánh phá rất ác liệt như Ngã ba Đồng Lộc, Khe Ve, Long Đại, 050, Cổng Trời... “Có khi trên đường, thấy bom dội xuống, nguyên một xe đi trước mình không còn ai. Nói thật là không còn nước mắt để khóc nữa. Chính vì thế mà trước nhiều chuyến đi, chúng tôi được đơn vị làm lễ “truy điệu sống”. May thế nào, sau ba năm cống hiến, cả 45 chị em đều an toàn trở ra”,
bà Vân kể.
Cuộc sống hiện tại
Đầu năm 1972, trung đội nữ lái xe Trường Sơn được điều về Trường đào tạo lái xe D255, thuộc Cục quản lý xe máy. 45 cô gái lái xe trở thành giáo viên đào tạo cho 2 khóa học viên gồm 300 lái xe nữ. Đội quân này tiếp tục phục vụ tại các kho xe, kho hàng, bệnh viện quân đội thay cho các lái xe nam ra trận. Trong lễ duyệt binh mừng đất nước hoàn toàn giải phóng, trong đội hình duyệt binh có các nữ lái xe thông tin, xe kéo pháo 37 ly, xe chở dân quân tự vệ.
Năm 1975, nhiệm vụ hoàn thành, bà Vân xin chuyển ngành nhưng nữ lái xe lúc ấy là một hình ảnh lạ lẫm nên “không ai nhận”, tìm việc hành chính thì lương cao vì lúc đó bà đã là đại đội phó, xin mãi chả được, thế là bà về phục viên, không có chế độ gì ngoài khoản lương thương binh 1,4 triệu đồng mỗi tháng (tính ở thời điểm hiện tại).
Năm đứa con lần lượt ra đời, cô hoa khôi đội lái năm xưa phải đi làm ruộng, mò cua bắt ốc, đi khâu giầy ở hợp tác xã, buôn thúng bán bưng... để cùng chồng nuôi con. Tay lái lụa lẫy lừng đường Trường Sơn một thời chỉ còn hữu dụng ở những lúc chồng lái xe chở hàng về mệt quá chưa kịp đỗ cho chỉnh tề thì bà lên xe, đỗ lại.
45 nữ lái xe bận rộn với mưu sinh, cũng bẵng đi mất liên lạc. Mãi sau này, họ được vợ chồng nhà văn Chu Lai tìm đến và đưa câu chuyện về đội xe độc nhất vô nhị này lên đài, các tổ chức mới biết đến. Bà Vân vẫn nhớ, lần gặp mặt đầu tiên của mấy chị em là với tướng Đồng Sĩ Nguyên. Ông Nguyên thấy chị em gầy gò khó khăn quá, mới điện cho cục hậu cần tặng mỗi người bộ quân phục để dùng đi họp hành, gặp mặt.
Cũng từ đó, hàng năm đến ngày truyền thống 18/12, đội nữ lái xe Trường Sơn năm xưa vẫn gặp mặt nhau ôn lại chuyện cũ và luôn ghi nhớ lời đội trưởng Phùng Thị Viên: “Đời có thể quên chúng mình, nhưng chị em chúng mình đừng bao giờ quên nhau”.



