“Chúng tôi đứng rất gần nhưng không thể đưa đồng đội về, đó là khoảnh khắc đau đớn nhất của đời lính”
Giữa khói lửa chiến tranh, có những con người đi qua cái chết bằng lòng quả cảm, người xông lên giữa làn đạn, người âm thầm giữ mạch sống nơi tuyến lửa... Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng trong ký ức của những người lính hôm nay chiến trường vẫn vẹn nguyên với máu, nước mắt, sự hy sinh và một niềm tin không gì lay chuyển về ngày đất nước hòa bình, thống nhất.
rong căn nhà nhỏ ở thôn Sát, xã Bá Thước, câu chuyện đời lính của cựu chiến binh Hà Văn Việt khiến ai nghe cũng xúc động. Đó là những chiến thắng lịch sử của dân tộc mà ông vinh dự được có mặt.
Lúc đó, năm 1971, chàng trai 17 tuổi Hà Văn Việt bất ngờ nhận tin báo nhập ngũ. Tin báo đến nhanh khiến gia đình không kịp làm vía - một nghi lễ quan trọng của người Thái để cầu mong bình an cho con em trước khi rời bản. Không có những chuẩn bị chu đáo, không có thời gian bịn rịn, ông bước vào quân ngũ với tâm thế của một người lính thực thụ, mang theo niềm tin giản dị mà lớn lao về trách nhiệm với đất nước.
Sau thời gian huấn luyện, ông nhận nhiệm vụ tại Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 36, Sư đoàn 306. Đến tháng 4/1972, ông trực tiếp tham gia chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị, nơi được nhắc đến như một trong những chiến trường khốc liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Những ngày tháng chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị, anh em chúng tôi hiểu rằng, mỗi tấc đất là một cuộc giằng co sinh tử, mỗi bước tiến đều phải trả giá bằng máu.
Trong đó, ký ức về một trận đánh tại đồi Mít vẫn còn in đậm trong tâm trí. Khi ấy, ông là tiểu đội trưởng, cùng đồng đội tham gia trinh sát trước giờ nổ súng. Trong quá trình đó, một người đồng đội đã hy sinh. Khi quay lại để đưa thi thể về, họ phát hiện kẻ địch đã buộc lựu đạn vào thi thể, một cái bẫy tàn nhẫn nhằm gây thêm thương vong. “Chúng tôi đứng đó rất gần nhưng không thể đưa đồng đội về. Đó là một trong những khoảnh khắc đau đớn nhất của đời lính”, ông nhớ lại và giọng trầm xuống.
Ngay sau đó, tiểu đội của ông phối hợp cùng các mũi khác tấn công, tiêu diệt gọn một trung đội địch gồm khoảng 30 tên. Trận đánh thắng lợi, nhưng cái giá phải trả không hề nhỏ. Chiến thắng ấy đã giúp ông được kết nạp Đảng. Niềm tự hào đó đến nay ông vẫn khắc ghi bằng việc giữ cẩn thận tờ quyết định kết nạp đã nhoè hết chữ. Cũng chính sự anh dũng và mưu lược trong chiến đấu đã giúp ông được trao tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều thành tích khác.
Năm 1975, trong một lần thực hiện nhiệm vụ tại Thanh Hóa, ông xin phép về cưới vợ. Đám cưới diễn ra giản dị, vội vã và ông chỉ kịp ở bên vợ hai ngày trước khi tiếp tục lên đường vào Nam. Hai ngày ngắn ngủi ấy, sau này ông nói là ký ức ấm áp hiếm hoi giữa những năm tháng chiến tranh dài dằng dặc. Trở lại chiến trường, ông tiếp tục tham gia nhiều trận đánh ác liệt.
Những vết thương từ bom văng, đạn sượt là điều gần như quen thuộc. Không có điều kiện chăm sóc y tế đầy đủ, ông và đồng đội tự băng bó cho nhau, rồi lại tiếp tục chiến đấu. Có những lúc máu còn chưa kịp khô nhưng nhiệm vụ thì không thể chờ.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, đơn vị của ông nhận nhiệm vụ đánh vào Bộ Tổng Tham mưu của chính quyền Sài Gòn. Trên đường tiến vào trung tâm, sự chống trả của địch vẫn rất quyết liệt, thêm nhiều đồng đội của ông ngã xuống. Mỗi mất mát lại khiến ý chí của ông và đồng đội them quyết tâm. Rồi khoảnh khắc lịch sử cũng đến. Ông cùng đồng đội tiến vào Bộ Tổng Tham mưu, hoàn thành nhiệm vụ, chứng kiến lá cờ Giải phóng tung bay trên nóc Bộ Tổng Tham mưu.
Cảm giác đó, cả đời tôi không thể nào quên. Tôi và đồng đội ôm nhau trong mừng rỡ và những giọt nước mắt cho bao hy sinh, khổ cực lặng lẽ rơi trong hạnh phúc.Cựu chiến binh Hà Văn Việt
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội, giữ chức Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 2, làm nhiệm vụ tại Tuyên Quang. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra năm 1979, ông lại một lần nữa lên đường, tiếp tục chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc. Những năm tháng ấy nối tiếp những năm tháng trước đó, như một mạch liền không đứt của đời lính.
Rời quân ngũ, ông trở về quê hương, nhưng tinh thần của người lính vẫn theo ông trong từng việc làm. Suốt 26 năm, ông đảm nhiệm vai trò Bí thư chi bộ thôn,tiếp tục cống hiến cho cộng đồng. Từ những việc nhỏ trong đời sống đến việc xây dựng khối đoàn kết trong dân, ông luôn giữ cho mình sự tận tâm như khi còn đứng trong quân ngũ.



