Chuỗi trận mật tập của quân dân Hưng Yên (1953–1954)
Đoạn kể nói về 14 trận mật tập của quân dân Hưng Yên từ tháng 5-1953 đến 4-1954 tiêu diệt nhiều vị trí địch. Nhờ vận dụng sáng tạo chiến thuật tập kích bí mật, ta diệt nhiều đồn bốt, thu nhiều vũ khí, mở rộng vùng kiểm soát và góp phần làm suy yếu hệ thống chiếm đóng của địch.
Từ năm 1951 - 1953, có 3 ngày lịch sử đánh dấu từng bước phát triển của phong trào kháng chiến Hưng Yên. Đó là ngày 31-3-1951 phong trào kháng chiến Hưng Yên phá tan hệ thống tháp canh, hương đồn của địch. Ngày 25-9-1951 quân dân Hưng Yên đã đánh thắng quân cơ động GM của địch. Ngày 10-5-1953 quân dân Hưng Yên mở màn các trận tập kích vị trí tiếp theo.
Dưới đây, chúng tôi xin ghi lại thứ tự theo thời gian các trận mật tập dựa theo mô hình, kinh nghiệm của trận Bần trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
Trận thứ hai là trận tiêu diệt vị trí bảo an quận hành chính Khoái Châu, đóng tại thôn Đào Viên trên đường 39, diễn ra đêm 19 rạng ngày 20 tháng 6 năm 1953, do đại đội 25 đảm nhiệm. Đại đội trưởng là đồng chí Phạm Du, tỉnh đội trưởng Võ An Đông đi sát chỉ huy. Đặc điểm trận đánh này là sau khi rút kinh nghiệm trận Bần, đại đội tự mình tổ chức một tổ trinh sát mà tổ trưởng là đồng chí Hoàng Hải sau này là một gương sáng chiến đấu các trận tiếp theo. Trận này ta bí mật cắt hàng rào thép gai không dùng bộc phá, nên tiến sát vào lô cốt, nhà nghỉ của bọn bảo an và nổ súng, bắt gọn địch, ta không bị thương vong.
Trận thứ ba là trận Phương Trù, diễn ra ngày 10-7-1953, do đồng chí Đào Cơ - tiểu đoàn phó chỉ huy đại đội 27 và một trung đội bộ đội Khoái Châu. Trận này cũng vậy, địch hoàn toàn bị tiêu diệt bất ngờ và bắt gọn. Đặc điểm trận này là ta bắt đầu sử dụng máy điện thoại để chỉ huy, lần đầu tiên bộ đội Khoái Châu do đồng chí Chức - huyện đội phó chỉ huy phối hợp và chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc. Về vũ khí, ngoài súng trung - tiểu liên, súng trường, ta thu được khẩu DKZ57.
Trận thứ tư là trận tiêu diệt vị trí Vân Trì đêm 15 rạng 16-8-1953. Đồn này do một tiểu đoàn gồm hai đại đội bộ binh, một đại đội xe tăng và cơ giới, một đại đội pháo 105, bốn khẩu, trấn giữ ở sát đường 39. Về ta, tham chiến có 3 đại đội tỉnh (đại đội 25, 27 và 29) có đại đội huyện Khoái Châu phối hợp do tỉnh đội trưởng Võ An Dông chỉ huy. Kết quả, diệt 75 tên, bắt sống 70 tên Âu Phi, phá hủy 14 xe tăng và cơ giới, phá hỏng 4 khẩu pháo 105 mm. Rất. tiếc là mũi phía đông của đại đội 25 vào chậm nên ta không làm chủ hoàn toàn chiến trường, nhưng địch sau đó buộc phải rút về vị trí Lực Điền. Bộ Tổng tư lệnh đã tặng thưởng Huân chương Quân còng hạng ba cho đơn vị dự trận này.
Trận thứ năm là trận tập kích vị trí cống Ao Sầu ở huyện Văn Giang, trên đê sông Hông, ngày 14-10-1053, do đồng chí Phạm Du chỉ huy đại đội 25 thực hiện. Trận này không thắng lợi hoàn toàn, nhưng địch buộc phải rút đi nơi khác.
Trận thứ sáu là trận tập kích tiêu diệt hoàn toàn vị trí ngụy Thiết Trụ ở trên đê sông Hồng lần thứ 2, đêm 8 rạng 9-11-1953. Lực lượng tham gia có đại đội 27 và đại đội huyện Khoái Châu. Chỉ huy trận đánh là tỉnh đội trưởng Võ An Đông, diệt và bắt 50 tên, thu toàn bộ vũ khí.
Đặc điểm trận đánh, sau khi diệt xong vị trí, hôm sau ta để lại một bộ phận án ngữ, đánh địch, thu dọn chiến trường và bố trí trận phục kích trên sông bằng ĐKZ và đại liên bắn trọng thương một ca-nô địch.
Trận thứ bảy tiêu diệt vị trí Vĩnh An (Văn Giang) do đại đội 25, người chỉ huy Mai Dương - tiểu đoàn phó đảm nhiệm. Trận đánh diễn ra chỉ 3 ngày sau trận Thiết Tra vào đêm 11-11-1953, diệt và bắt 90 tên bảo an, hương dũng.
Trận thứ tám tiêu diệt hoàn toàn cụm vị trí Dị Sử đêm 15 rạng 16-12-1953. Cụm này gồm 2 vị trí liên nhau, một căn cứ hậu phương của GM3 gồm một tiểu đoàn thiếu, một vị trí quận lỵ hành chính Mỹ Hào gồm 1 đại đội bảo an năm trên đường số 5.
Ta có một tiểu đoàn (đại đội 25, 27, 29) do tỉnh đội trường Võ An Đông chỉ huy.
Khác với các trận trước, khi ta trinh sát thực địa, các bộ phận vào liên trong hàng vào, phát hiệu thấy một tên địch đi ra hố xí, tưởng lộ, đồng chí cán bộ nhảy qua hàng rào bỏ chạy nên phải tạm ngừng kế hoạch. Sau đó vài ngày, trinh sát thấy địch chỉ củng cố qua loa, ta nhận định chưa hoàn toàn bị lộ, lại nữa do ý của Khu cần đánh mạnh để phối hợp với bộ đội bên tỉnh Thái Bình chống càn, nên ta vẫn quyết định đánh, mặc dù thời gian này là thượng tuần tháng âm lịch, trời sáng trăng.
Diễn biến của trận đánh phức tap hơn. Ngày hôm ta đánh, địch mới rào thêm một hàng rào dây thép gai. Đồng chí Bế - đại đội trưởng C27 đã dũng cảm chỉ huy bộ đội vượt rào xông vào trận địa. Nhưng một số tên địch phát, hiện ra đã rút lên tháp chùa cũ để ném lựu đạn, bắn súng chống cự (tháp chùa này giống như hình lô cốt, địch lợi dụng trổ một số lỗ châu mai quanh tường, tháp này hiện nay vẫn còn, thiết, tưởng nên giữ lại kỷ vật này). Đồng chí Vũ Văn Thới lúc đó mới là tổ trưởng 3 người đã dẫn tổ vào tháp địch, từ dưới đánh lên và tiêu diệt hoàn toàn số tên địch cố thủ nên đã tạo cho quân ta làm chủ chiến trường, bắt tù binh, thu vũ khí. Kết quả, ta bắt hơn 300 tên địch (trong đó có bắt tên Minh là quận trưởng hành chính Mỹ Hào, thu 500 súng rác loại. Ta hy sinh 10 đồng chí (có đồng chí Quý là đại đội trưởng C29), hơn 10 đồng chí bị thương nặng và vừa.
Sau trận Bần, trận Dị Sử là trận thư hai tiêu diệt căn cứ hậu phương GM3 ở hai nơi khác nhau. Đây là trận chiến thắng oanh liệt trong điều kiện địch đã ít nhiều có đề phòng, lợi dụng lô cốt cố thủ, thời tiết sáng trăng không thuận lợi cho chiến thuật mật tập, đánh tiêu diệt một cụm gồm hai vị trí tính chất khác nhau. Đây là trận đánh thu được nhiều các loại vũ khí nhất, gần 500 khẩu, bắt được gần 300 tên tù binh. Về ta, so với các trận đánh trước có thương vong nhiều hơn, nhưng hy sinh cũng chỉ có 10. Như vậy là ít so với thiệt hại của địch gần 300 tên.
Trận thứ chín, ngày 18-1-1954, đại đội 25 tập kích tiêu diệt vị trí Kênh Cầu (huyện Yên Mỹ) diệt một đại đội, người chỉ huy là đồng chí Nguyễn Văn Chiện - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 58 của tỉnh và đồng chí Lê Đức Thịnh - chính trị viên Tỉnh đội (đồng chí Thịnh sau này là Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng và sau là Bộ trưởng Bộ Nội thương).
Trong khi đi trinh sát thực địa, đồng chí Nguyễn Văn Ca, trung đội trưởng bị trúng mìn hy sinh ở sát hàng rào, nhưng bọn địch vẫn không phát hiện được ý đồ tác chiến của ta, vài ngày sau ta vẫn tổ chức tiến công tiêu diệt.
Trận thứ mười, tập kích ở Dốc Lã (Kim Động) do đại đội 29 tiến hành dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Văn Chiện, tiểu đoàn trưởng D58. Trận này tiêu diệt được một ụ súng, thu 3 súng. Đội hình bị lộ, địch chống cự ác liệt. Do chỉ huy do dự, động tác chiến thuật không dứt khoát nên ta không xung phong được, vào trận nội của địch, hị hy sinh và bị thương 20 đồng chí. Đây là một trận thất bại không diệt được địch, ta thương vong nhiều.
Trận thứ mười một, tiêu diệt vị trí Đình Dù (huyện Văn Lâm) của D58 tỉnh, đêm 11-3-1054. Đặc điểm trận này là đánh hợp đồng phối hợp với E42, tiêu diệt vị trí Nghĩa Lộ (Lạc Đạo, Văn Lâm) với E50 phục kích trên đường số 5 khu vực chợ Đường Cải, với D54 của tỉnh tiêu diệt, vị trí hương dũng Hoàng Nha, Thanh Đặng cùng với bộ đội và dân quân du kích các huyện dọc đường 5 và đường sắt Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ và các huyện thuộc tỉnh Hải Dường đồng loạt phá hoại đường sắt và đường số 5 do Bộ tư lệnh khu Tả ngạn chỉ huy. Trận Đình Dù là một bộ phận của các hoạt động tổng hợp trên, có tính chất một chiến dịch nhằm đánh phủ đầu phối hợp chặt chẽ với chiến dịch Điên Biên Phủ sẽ mở màn sau đó 2 ngày, tức là ngày 13-3-1954.
Về chiến thuật, trận đánh dù không được sự chuẩn bị từ trước, chỉ được có 5 ngày trinh sát vị trí, tổ chức chiến đấu khẩn trường, thực hiện chiến tranh nhanh gọn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Người chỉ huy là đồng chí Lê Đức Thịnh, chính trị viên Tỉnh đội và Nguyễn Văn Chiện - tiểu đoàn trưởng D58.
Trận thứ mười hai, tiêu diệt vị trí Nghi Xuyên (huyện Khoái Châu) do D54 thực hiện đêm 26-3-1954, do đồng chí Võ An Đông - Tỉnh đội trưởng và đồng chí Vũ Thành (tức Chiền) tiểu đoàn trưởng D54 chỉ huy. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, diệt một đại đội, bắt 25 lính Âu Phi làm tù binh. Đây là trận tập kích thắng lợi đầu tiên của tiểu đoàn 54 mới được thành lập 3 tháng, hồi đầu năm 1954.
Trận thứ mười ba, đêm ngày 14-4-1954, đại đội 29 tiêu diệt vị trí Chùa Đàm (huyện Văn Giang) tập kích tiêu diệt một đại đội ngụy binh, thu toàn bộ vũ khí.
Trận thứ mười bốn, đêm 30-4-1954, D54 do đồng chí Vũ Thành chỉ huy, tập kích tiêu diệt gọn vị trí Cửa Gàn cách thị xã Hưng Yên 1km, diệt và bắt gọn hai trung đội ngụy binh.
Sau những trận mật tập trên, D58 có nhiệm vụ quần lộn với GM3 quay về bảo vệ đường sắt, phát triển hình thức tập kích địch trú quân dã ngoại, có những trận thắng lợi như trận Quản Ròn, Hành Lạc, Tuân Lương... D54 đang tung trinh sát chuẩn bị đánh vào thị xã Hưng Yên thì ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, sau đó ký kết hiệp định Giơnevơ. Chiến trường Hưng Yên cũng chuyển sang trạng thái khác.
Như vậy là từ 10-5-1953 tới 30-4-1954, trải qua 12 tháng, quân dân Hưng Yên đã tiêu diệt 14 vị trí địch bằng hình thức mật tập, bình quân mỗi tháng đánh hơn một trận, gồm 3 vị trí cỡ tiểu đoàn, còn lại ở trên dưới một đại đội. Trong 14 trận, chỉ có 1 trận Dốc Lã được coi là thất bại, còn lại ta đều tiêu diệt gọn, thu vũ khí, bắt tù binh. Về phía ta, tỷ lệ thương vong hết sức thấp, càng đánh càng mạnh, không chỉ được bồi dưỡng về kinh nghiệm chiến đấu mà còn ngày càng thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, mở rộng địa bàn ta. Không những thế, mỗi vị trí là một cái kho chứa vũ khí, quân trang, quân cụ, chính nơi đó đã cung cấp cho bộ đội va du kích hàng chục ngàn khẩu súng các loại, hàng trăm tấn đạn dược, đỡ phải cất công lên Việt Bắc lĩnh về.
Về bộ đội tỉnh thì đại đội nào cũng lập chiến công, thuần thục hình thức chiến thuật này, đáng kể có bộ đội huyện Khoái Châu (C10) đã tổ ra mũi phối hợp chiến đấu xuất sắc trong tất cả các trận đánh như Phương Trù, Vân Trì, Thiết Trụ...
Trong hoàn cảnh địch hậu lúc đó, vận dụng sáng tạo ra một hình thức chiến thuật này, thể hiện sự thông minh và khôn ngoan của cán bộ, chiến sĩ Hưng Yên đã tạo ra cách đánh có hiệu suất chiến đấu lớn, vừa tiêu diệt được nhiều địch, vừa mở rộng địa bàn, lại đảm bảo thương vong ít, giữ gìn và phát triển lực lượng ta, đã khéo biết tìm cái yếu trong cái mạnh của địch để khoét sâu, việc chuẩn bị và thực hành chiến đấu có tính toán thận trọng nhưng lại rất táo bạo.
Thiết tưởng đó cũng là một sự tự hào chính đáng của quân dân Hưng Yên trong kháng chiến chống Pháp.



