Khác

DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA "CHIẾN THẮNG CHƯƠNG THIỆN"

Khu di tích Chiến thắng Chương Thiện tọa lạc tại phường Vị Tân, TP Cần Thơ. Với nhiều chiến công hiển hách của quan và dân Chương Thiện ngày trước.

Cần Thơ25/08/2026Xã Vị Thanh 1 (Đoàn xã Vị Thanh 1)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

I. GIAN TRANG TRỌNG

Xin giới thiệu với quí khách đây là gian trang trọng nhất của nhà trưng bày, nơi đây được trưng bày các tượng bán thân bằng đồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy đánh bại kế hoạch “Bình định, lấn chiếm” Chương Thiện 1973.

* Chủ Tịch Hồ Chí Minh: 19/5/1890 - 2/9/1969.

1. Lê Duẩn: 7/4/1907 - 10/7/1986, nguyên Tổng Bí thư ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.

2. Cụ Huỳnh Phan Hộ: Khu Bộ trưởng Khu 9, ông là người trực tiếp chỉ đạo trong trận Tầm Vu lần thứ 2 vào ngày 12/11/1946.

3. Phạm Hùng: 11/6/1912 - 10/3/1988; nguyên Chủ Tịch Hội đồng Bộ trưởng, nguyên Bí thư Trung ương Cục Miền Nam (1973).

4. Võ Văn Kiệt: 23/11/1922 - 11/6/2008; Nguyên Thủ tướng chính phủ, nguyên Bí thư Khu ủy khu IX (1973).

5. Nguyễn Văn Giác (Mười Quang), Nguyên Bí thư Tỉnh Ủy Cần Thơ (1972 - 1976).

6. Trần Văn Long: nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ 1962 - 1963, Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ 1976, nguyên Phó Bí thư Khu ủy Khu 9 (1973).

7. Tôn Đức Thắng: 20/8/1888 - 30/3/1980; Nguyên Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (1969 - 1976), Nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam (1976 - 1980).

8. Võ Nguyên Giáp: 25/8/1911 - 4/10/2013; Đại tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ quốc phòng, phó Thủ Tướng thường trực Chính Phủ, Tổng tư lệnh tối cao quân đội nhân dân Việt Nam.

9. Lê Đức Anh: 1/12/1920, Đại tướng, nguyên Bộ trưởng bộ quốc phòng, nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, nguyên tư lệnh QK9 (1973).

Năm 1973 đ/c đã trực tiếp tham gia và chỉ đạo đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm Chương Thiện.

10. Phạm Ngọc Hưng, nguyên Phó tư lệnh QK9 (1973).

11. Phạm Văn Trà: 19/8/1935, Đại tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Bộ chính trị, Trung đoàn trưởng Trung đoàn I U Minh (1973). Trong những năm tháng chiến đấu trên mảnh đất Cần Thơ, dưới sự chỉ đạo của Đ/c Phạm Văn Trà, Trung đoàn I U Minh đã lập nhiều chiến công vang dội ở vùng Long Mỹ - Vị Thanh.

12. Đặng Trọng Lư (Dương Tử), nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn I U Minh (1969 - 1973).

II. BỐI CẢNH ĐBSCL TRƯỚC KHI CÓ HIỆP ĐỊNH PARIS

Sau đợt tổng tiến công Mậu Thân 1968 Mỹ bị thua đau, buộc phải xuống thang chiến tranh nhưng chúng lại có mưu đồ mới đối phó với ta, gấp rút củng cố lực lượng phòng ngự, từ “tìm diệt và bình định” chuyển sang “quét và giữ” các thành thị căn cứ đầu não quan trọng như Cần Thơ và một số đô thị khác. Đồng thời ra sức bình định lấn chiếm lại một số vùng đã mất sau Mậu Thân, chiếm thêm một số vùng giải phóng của ta trước đây. Chúng bắn phá phản kích rất ác liệt, có cả quân Mỹ và quân chư hầu, được máy bay, tàu chiến yểm trợ, liên tiếp mở các chiến dịch “bình định cấp tốc”, “bình định đặc biệt”, “chiến dịch phượng hoàng” vừa đánh vừa đẩy mạnh hoạt động chiến tranh tâm lý chiêu dụ hàng, nhằm đẩy ta ra xa thành phố Cần Thơ, thị xã và các thị trấn, thị tứ, đường giao thông chiến lược quan trọng.

Trong các vùng giải phóng, chúng sử dụng phi pháo bắn phá ác liệt. Dùng trực thăng “nhảy dù” xuống bất cứ đâu, lúc nào ở những nơi mà chúng nghi ngờ có lực lượng cách mạng. Sử dụng cả thuốc khai hoang phá ruộng vườn, phá địa hình với chủ trương “tát nước bắt cá” gom dân ra các vùng ven ấp chiến lược để chúng dễ dàng kiểm soát, đồng thời vơ vét nhân vật lực, làm cho lực lượng cách mạng hết chỗ dựa.

Đi đôi với bình định càn quét lấn chiếm, địch ra sức đôn quân bắt lính một cách ồ ạt, làm cho quần chúng nhân dân càng căm phẫn và quân đội Ngụy càng ô hợp, phức tạp, tuy đông mà không mạnh, tâm lý hoang mang dao động sợ chết, nhất là sau đợt tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 địch chưa kịp hồi phục.

Về phía ta: Lực lượng tiền tuyến cũng như lực lượng hậu phương vừa kiên cường chiến đấu vừa hăng say sản xuất.

Ảnh: Phụ nữ xã Vĩnh Thuận Đông, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ tích cực sản xuất để chồng con an tâm chiến đấu.

Ảnh: Lực lượng vũ trang huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ tấn công bứt hàng chốt phòng vệ dân sự tại cầu Gốc Mít - 1970.

Ảnh: Quân ta áp giải tù binh sau trận đánh đồn Cái Sơn, xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ.

Ảnh: Công binh xưởng làm việc ngày đêm để sẵn sàng đáp ứng đòi hỏi của chiến trường với tinh thần: Quyết tâm thi đua sản xuất nhiều vũ khí phục vụ cho chiến đấu.

Lòng căm thù giặc, ý chí đấu tranh và niềm tin chiến thắng ấy đúng như tinh thần trong thư chúc Tết (xuân năm 1969) mà Bác đã gởi vào Nam:

 

“Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến ắc càng thắng to.

Vì độc lập, vì tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào.

Tiến lên chiến sĩ đồng bào

Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn.”

Suốt năm 1972 phong trào đấu tranh của lực lượng vũ trang tỉnh Cần Thơ và một số tỉnh lân cận phát triển mạnh mẽ, liên tiếp tấn công vào các đồn bốt giặc và đã lập được nhiều thành tích.

Mùa hè năm 1972, để cứu nguy chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - Ngụy trước bờ vực phá sản, Mỹ buộc phải tiếp tục hòa đàm với ta ở Paris (sau nhiều năm không đạt kết quả) và phái đoàn Mỹ ở Paris đã đồng ý ký tắt với ta bản dự thảo Hiệp định vào ngày 20/10/1972.  

III. HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM (1968 - 1973)

Hội nghị Paris, một hội nghị kéo dài trong vòng 4 năm 9 tháng cho thấy đế quốc Mỹ rất ngoan cố, xảo quyệt, nhưng bọn tay sai thì hoang mang tuyệt vọng, chúng dùng mọi thủ đoạn lật lọng tráo trở, trì hoãn việc ký kết … vừa đánh vừa đàm mong chuyển lại tình thế trên chiến trường. Do đó mãi đến 3 tháng sau hiệp định mới được ký chính thức vào ngày 27/01/1973.

Theo tinh thần Hiệp định: “Vẫn giữ nguyên vị trí đứng chân của các lực lượng, bên nào chiếm  đóng đến đâu thì làm chủ đến đó” tức vẫn duy trì trạng thái da beo trên chiến trường miền Nam, Mỹ cam kết rút hết quân về nước và tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam về mặt pháp lý, Hiệp định còn công nhận: Ở miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, 2 quân đội và 2 vùng kiểm soát.

Nhưng chỉ một ngày sau đó, ngày 28/01/1973 tổng thống Ngụy Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu đã đọc diễn văn công khai tuyên bố: “Ở Chương Thiện thì không có chuyện ngừng bắn, không có Hiệp định gì cả”, “ở đâu có hòa bình nhưng tại Chương Thiện  này không có hòa bình”.

IV. VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA TỈNH CHƯƠNG THIỆN

Vì sao cả ta và địch đều chọn địa bàn Chương Thiện làm địa bàn trọng điểm?

Vì Chương Thiện là địa bàn cơ động nằm giáp ranh các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá và căn cứ cách mạng U Minh.

Địch coi Chương Thiện là tuyến phòng thủ từ xa để bảo vệ trung tâm đầu não vùng 4 chiến thuật đặt tại Cần Thơ, đồng thời là bàn đạp để đánh phá vào căn cứ cách mạng U Minh của ta.

Với ta, Chương Thiện là vành đai vững chắc để bảo vệ căn cứ cách mạng U Minh, đồng thời là bàn đạp để tấn công ra các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá. Giữ được vành đai này đi qua vùng ruột Hậu Giang có ý nghĩa quan trọng trong việc giải phóng miền Tây. Ngoài ý nghĩa quân sự, nơi đây còn là hậu phương lớn dự trữ sức người, sức của trong công cuộc kháng chiến. Chính vì lợi thế chiến lược như vậy mà nơi đây trở thành quyết chiến điểm trong chiến dịch của quân và dân miền Tây Nam Bộ đánh bại cuộc hành quân “bình định lấn chiếm” phá hoại hiệp định Paris của địch suốt năm 1973.

Tiếp tục con đường bạo lực cách mạng, phối hợp với chiến trường chung, trên chiến trường Cần Thơ ta đẩy mạnh 3 mũi giáp công, tấn công địch liên tục đều khắp.

 Từ tháng 4/1972 đến hết năm 1973 có ngày ta đuổi chạy 4 đến 5 đồn, hễ ta tấn công đuổi chạy một đồn thì các đồn xung quanh ta sử dụng quần chúng và gia đình binh sỹ, giáo dục tác động đuổi chạy, không những ta tấn công bao vây tiêu diệt, bức hàng bức rút ban đêm và cả ban ngày. Bọn dưới kêu bọn trên cứu viện liên tục, nhưng nơi nào cũng bị ta bao vây tấn công, chúng không thể tiếp viện nổi, bỏ mặc bên dưới tùy nghi đối phó. Hơn thế nữa cuộc tiến công mùa hè năm 1972, khí thế cách mạng của quân và dân ta rất quyết liệt cho mục tiêu giải phóng miền Nam.

 Lực lượng cách mạng không ngừng được củng cố và phát triển. Tinh thần Ngụy quân, Ngụy quyền sa sút trầm trọng. Đặc biệt sau khi chính phủ CMLTCHMNVN ra tuyên bố chính sách 10 điểm ngày 26/10, làm nao núng tinh thần, tư tưởng trong Ngụy quân, Ngụy quyền đã hoang mang nay càng hoang mang hơn. Thấy Mỹ - Ngụy sắp thua, hòa bình sắp đến, tâm trạng sợ chết, chán ghét chiến tranh, mong muốn hòa bình nảy nở trong đầu óc họ.

Để giành thế chủ động trên chiến trường, ngày 26/01/1973 (một ngày trước khi Hiệp định có hiệu lực), ta đẩy mạnh 3 mũi giáp công tấn công địch, các trung đoàn chủ lực Khu, lực lượng các tỉnh tấn công làm chủ một phần các trục giao thông thủy bộ, phát động quần chúng nổi dậy cắm cờ làm chủ hầu hết nông thôn và hầu hết các đoạn đường thủy bộ ta vừa chiếm lại được.

V. QUÂN DÂN KHU IX ĐÁNH BẠI KẾ HOẠCH BÌNH ĐỊNH LẤN CHIẾM CHƯƠNG THIỆN NĂM 1973

Vào 0 giờ ngày 28/01/1973, Hiệp định Paris có hiệu lực, ta ngừng tiến công làm chủ tại chỗ. Song, ngay ngày hôm đó (28/01/1973) tổng thống Ngụy Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu đã đọc diễn văn công khai tuyên bố “Ngừng chiến, không ngừng bắn”, “không thi hành hiệp định Paris” và gào thét tiếp tục đánh và giết. Chúng đã cho lực lượng phản kích, dùng pháo binh và máy bay phản lực ném bom, bắn phá bừa bãi vào vùng giải phóng, vào đội hình của ta.

Ngày 29/01/1973, Bộ tư lệnh Quân Khu đánh giá tình hình “Địch ngoan cố không thi hành Hiệp định, chúng tiếp tục gây chiến tranh”. Vì vậy, Quân Khu chỉ đạo các đơn vị tiếp tục chiến đấu.

Để đối phó với địch, về mặt quân sự, cần phải có chủ trương thống nhất. Ngày 02/02/1973 Thường vụ Khu ủy họp mở rộng tại SCH tiền phương, có Bí thư 3 tỉnh: Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá. Hội nghị Khu ủy đã nhận định và đánh giá đúng tình hình, thống nhất đề nghị lên TW Cục giữ thế tiến công, kiên quyết đánh trả địch lấn chiếm, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh chính trị, binh vận phù hợp với nội dung Hiệp định, giữ vững thành quả đã đạt được, từng bước sẽ đưa mũi đấu tranh chính trị, binh vận lên ngang hàng với mũi tấn công quân sự. Và chỉ khi nào địch chịu thi hành Hiệp định, nhất là chịu thi hành điều khoản ngừng bắn và tự do dân chủ thì ta sẽ đưa đấu tranh chính trị và binh vận lên hàng đầu, còn lực lượng quân sự tùy tình hình mà xử trí cụ thể, vận dụng sau cho thích hợp, Hội nghị chủ trương: “Phát huy thắng lợi của Hiệp định Paris, không mơ hồ ảo tưởng, nắm vững tư tưởng chiến lược tấn công bằng sức mạnh quân sự, chính trị binh vận và pháp lý của Hiệp định … trừng trị địch vi phạm Hiệp định, để giành đất, giành dân, giành quyền làm chủ, đánh bại bình định lấn chiếm của địch, phát triển lực lượng của ta về mọi mặt, kiên quyết giữ vững thành quả cách mạng đã giành được, đưa phong trào tấn công và nổi dậy của nhân dân ngày càng phát triển mạnh mẽ và vững chắc hơn, tiến tới giành thắng lợi trên toàn diện”.

* Ý nghĩa nhóm tượng và mảng phù điêu (4 người): Thể hiện sự quyết tâm đấu tranh chừng trị địch phá hoại Hiệp định Paris năm 1973 và kêu gọi tinh thần đoàn kết chiến đấu của các tầng lớp.

Thông qua cơ quan chuyên trách ngày 15/2/1973 Bộ Tư Lệnh Quân Khu nắm được toàn bộ “Kế hoạch bình định của địch 1973”.

Kế hoạch được chúng chia làm 2 thời kỳ và 3 bước:

Thời kỳ 1: Từ ngày 01/03/1973 đến ngày 30/08/1973: Lấn chiếm xong các vùng trọng điểm quan trọng nhất.

Thời kỳ 2: Từ ngày 01/09/1973 đến tháng 01/1974: Củng cố và phát triển kết quả đã đạt - trực tiếp thực hiện kế hoạch bình định năm 1973 ở những nơi chưa làm được. Chuẩn bị cho việc thực hiện kế hoạch kinh tế rộng khắp trong năm 1974.

3 bước:

- Bước 1: Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1973 - tập trung bình định lấn chiếm cho được địa bàn Chương Thiện.

- Bước 2: Từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1973 - bình định lấn chiếm U Minh.

- Bước 3: Từ tháng 10 đến tháng 11 năm 1973 - bình định vùng Nam Cà Mau và các vùng đã kiểm soát được.

 Tháng 10/1973 kế hoạch lấn chiếm của địch bị phá sản, không thực hiện được ý đồ, càng bị đánh đau, càng ngoan cố. Đầu tháng 11/1973 chúng lại điều thêm lực lượng Hải quân Trần Hưng Đạo số 44, từ Cát Lái tăng cường cho Hải Quân vùng 4 chiến thuật, rút thêm nhiều tiểu đoàn Bảo An ở các tỉnh Bến Tre, Gò Công, An Giang, Châu Đốc … nâng tổng số đơn vị tiểu đoàn ở khu vực Chương Thiện lên đến 75 lượt tiểu đoàn.

Về phía ta, khí thế cách mạng đã nâng lên thành cao trào từ hậu phương đến tiền tuyến đều hăng hái thi đua lập thành tích.

* Ý nghĩa nhóm tượng và mảng phù điêu (2 người): thể hiện sự đấu tranh của các tầng lớp, quần chúng nhân dân, lực lượng vũ trang … đánh bại kế hoạch “Bình định lấn chiếm” Chương Thiện năm 1973.

Ở giai đoạn này, tình hình tương quan giữa ta và địch chuyển sang chiều hướng có nhiều thuận lợi cho ta. Giữa lúc đó, Tỉnh ủy Cần Thơ lại tiếp thu Nghị quyết 21 của Trung ương Cục và Nghị quyết của Khu ủy khu Tây Nam Bộ về tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Ban chấp hành Tỉnh ủy Cần Thơ quyết định triệu tập Hội nghị triển khai trong toàn tỉnh về nội dung của hai nghị quyết nêu trên, hội nghị lấy tên là “Hội nghị đánh bình định” diễn ra suốt 7 ngày đêm từ ngày 12 đến ngày 18/10/1973. Trong 7 ngày đêm ấy, 125 con người mang sứ mạng quyết định cho vận mệnh của quê hương đã tập trung nghiên cứu, thảo luận, xác định phương hướng đánh địch. Đây là Hội nghị đông nhất, dài ngày nhất, được trang bị âm thanh, ánh sáng và bố trí nơi ăn, chỗ nghỉ cho đại biểu đầy đủ nhất trong điều kiện lúc bấy giờ.

Sau 2 tháng triển khai, thực hiện Nghị quyết đánh bình định, quân dân tỉnh Cần Thơ và các tỉnh lân cận như Sóc Trăng, Rạch Giá, Cà Mau, Bạc Liêu lập được nhiều thành tích vẻ vang.

* Tủ hiện vật:  

- Bên cạnh là một số tủ trưng bày (hiện vật), chiến lợi phẩm của quân và dân Khu 9 (hiện vật đồng thời).

* Ý nghĩa nhóm tượng (2 người phụ nữ): Đây là hình ảnh những người chị, người mẹ đã không ngại gian khổ hy sinh cả ngày và đêm để tiếp tế lương thực, đạn dược cho chiến trường, qua đó cho ta thấy được tinh thần chở che đùm bọc của nhân dân với cách mạng và đó chính là “nghĩa Đảng - tình dân”.

*Bảng kết quả:

Kính thưa quý khách!

Để đánh giá chiến thắng này, chúng tôi xin trích điện văn ngày 10/10/1974 của đ/c tổng Bí thư Lê Duẩn gởi cho đ/c Phạm Hùng, Bí thư TW cục “Ở khu IX, tỷ lệ ta địch là 1/8 nhưng do nắm chắc chỗ mạnh của ta chỗ yếu của địch, ta đã biết chủ động tấn công và giành được thắng lợi” Chiến thắng Chương Thiện không chỉ đánh bại về chiến thuật mà còn làm sụp đổ cả ý đồ chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Chiến thắng Chương Thiện năm 1973 đã khẳng định bản lĩnh cách mạng vững vàng, sự nhạy cảm chính trị sâu sắc và năng lực quyết đoán sáng tạo của TW Cục, Khu Ủy, Đảng bộ, các lực lượng vũ trang và nhân dân quân khu IX, sự quyết tâm của 3 thứ quân và sự kết hợp tuyệt vời của 3 mũi giáp công. Ta có phương châm, phương pháp tác chiến đúng, biết giành thế từ bị động chuyển sang thế chủ động tấn công địch. Chiến thắng Chương Thiện năm 1973 còn ghi nhận sự đóng góp vô cùng to lớn về trí tuệ và xương máu của Đảng bộ và quân dân tỉnh Cần Thơ, nơi mà địch chọn làm địa bàn trọng điểm để bình định càn quét lấn chiếm. Chiến thắng này là một trong những cơ sở quan trọng cho sự ra đời của nghị quyết TW 21, góp phần to lớn trong việc tạo tiền đề cho sự chuyển hướng của cách mạng miền Nam tiến tới cuộc tổng tiến công và nổi dậy toàn thắng mùa Xuân năm 1975.

Hưởng ứng chiến dịch tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 của toàn miền Nam, BCH Tỉnh ủy Cần Thơ đã lãnh đạo quân dân toàn tỉnh nổi dậy tấn công vào các cứ điểm của chính quyền Sài Gòn đóng tại Cần Thơ.

* Nhóm tượng (03 người trên xuồng): Thể hiện tinh thần đoàn kết của 3 thứ quân (Quân chủ lực, Quân dân địa phương, Quân dân quân du kích).  

Với những ý nghĩa lịch sử nêu trên vào ngày 9/12/2013 Thủ Tướng Chính Phủ ra quyết định xếp hạng là di tích Quốc gia Đặc biệt “Chiến thắng Chương Thiện”, gồm 02 địa điểm:

+ Phường Vị Tân, TP. Cần Thơ.

+ Xã Vĩnh Viễn, TP Cần Thơ

Nguồn tham khảoXem video gốc tại: https://drive.google.com/drive/folders/10rNyhg1i3x7N_yQiWMjEF0XXNlyyAduq
Bài viết do Ban Biên tập Đề án tổng hợp, biên soạn từ nguồn công khai, phục vụ mục đích giáo dục — tri ân phi lợi nhuận.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn