Khác

Chường Trinh lãnh tụ cách mạng

Truyền thống Nho học yêu nước của gia đình và quê hương sớm có tác động tích cực tới quá trình hình thành nhân cách và chí hướng của chàng thanh niên Đặng Xuân Khu. Sang đầu năm 1926, sự kiện nhà yêu nước Phan Chu Trinh qua đời vào ngày 24.3 là một trong những nguyên cớ thổi bùng lên làn sóng đấu tranh yêu nước của nhân dân ta. Ở Nam Định, một số nhà nho yêu nước đã đứng ra xin phép nhà cầm quyền thực dân tổ chức lễ truy điệu Phan Chu Trinh, nhưng bị từ chối. Lập tức, học sinh trường Thành Chun

Phú Thọ25/03/2026Đoàn xã Yên Phú (Đoàn xã Yên Phú)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Truyền thống Nho học yêu nước của gia đình và quê hương sớm có tác động tích cực tới quá trình hình thành nhân cách và chí hướng của chàng thanh niên Đặng Xuân Khu.

Sang đầu năm 1926, sự kiện nhà yêu nước Phan Chu Trinh qua đời vào ngày 24.3 là một trong những nguyên cớ thổi bùng lên làn sóng đấu tranh yêu nước của nhân dân ta. Ở Nam Định, một số nhà nho yêu nước đã đứng ra xin phép nhà cầm quyền thực dân tổ chức lễ truy điệu Phan Chu Trinh, nhưng bị từ chối. Lập tức, học sinh trường Thành Chung do nhóm Đặng Xuân Khu đứng đầu đã bãi khoá, kéo theo cuộc bãi khoá đồng loạt của học sinh toàn thành Nam. Trước áp lực đó, nhà cầm quyền thực dân buộc phải nhượng bộ. Lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh đã được tổ chức trang trọng tại nghĩa trang Bắc Tế có sự tham gia của hàng ngàn người.

Hai sự kiện lớn trên đã trực tiếp thôi thúc, lôi cuốn một lớp thanh niên trí thức anh tài tuấn kiệt dấn thân vào con đường đấu tranh cứu nước, trong đó có Trường Chinh. Ngay sau cuộc vận động để tang và truy điệu Phan Chu Trinh, Trường Chinh cùng với gần 200 học sinh thành Nam khác đã bị bắt rồi bị đuổi học.

Rời trường Thành Chung Nam Định, Trường Chinh lên Hà Nội nộp đơn xin theo học Trường Cao đẳng Thương mại thuộc Đại học Đông Dương. Ông vừa đi học, vừa tự kiếm sống bằng nghề gia sư, vừa nỗ lực tìm đường tham gia phong trào yêu nước. Đầu năm 1927, người thanh niên sẵn bầu nhiệt huyết sục sôi tinh thần yêu nước đó đã bắt được liên lạc và gia nhập Hội Việt Nam Kách mệnh Thanh niên. Từ đó, Trường Chinh nguyện hiến dâng trọn vẹn cuộc đời mình, tinh thần, tài năng, trí tuệ, tình cảm và cả tính mạng cho sự nghiệp cách mạng - cứu quốc theo ngọn cờ lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Những năm 1927, 1928 là thời gian rất quan trọng trong quá trình phát triển của tổ chức Thanh niên. Vừa học ở Hà Nội, Trường Chinh vừa tranh thủ về làng Hành Thiện lập ra tờ báo Dân cày để mở rộng tuyên truyền cách mạng trong các tầng lớp dân chúng địa phương. Từ khoảng cuối năm 1928, đầu năm 1929, để đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước và phong trào công nhân, một nhóm cán bộ ưu tú của Thanh niên ở Bắc Kỳ đã khởi xướng phong trào vô sản hoá và xúc tiến cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản. Trường Chinh là một trong những người tán thành và ủng hộ mạnh mẽ chủ trương này. Trường Chinh được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng và sau đó, từ đầu năm 1930, sau khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản nói trên, lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Chinh có vinh dự là một trong những đảng viên lớp đầu tiên của Đảng.

Từ giữa năm 1930, phong trào tranh đấu của nhân dân ta trở thành một cao trào cách mạng với hàng trăm cuộc biểu tình, bãi công của quần chúng công nông, mà đỉnh cao là sự ra đời của chính quyền Xô Viết tại Nghệ An và Hà Tĩnh. Để dập tắt cao trào cách mạng của nhân dân ta, thực dân Pháp đã dùng nhiều biện pháp đàn áp dã man. Hàng nghìn đảng viên cộng sản và chiến sĩ yêu nước đã bị giết hại hoặc bị bắt giam. Cuối tháng 12.1930, Trường Chinh bị sa vào tay mật thám Pháp. Chính quyền thực dân kết án ông 12 năm tù. Sau một thời gian giam giữ và tra tấn ông ở Hoả Lò (Hà Nội), chúng đày ông đi nhà tù Sơn La.

Ở trong tù, cùng với Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt) và một số cán bộ kiên trung của Đảng, Trường Chinh đã sớm lập ra chi bộ Đảng và một số tổ chức, đoàn thể hữu ái của tù nhân tại nhà tù Hoả Lò và nhà tù Sơn La. Trường Chinh được chi bộ phân công biên soạn một loạt các tài liệu lý luận sơ giản và phụ trách một số tờ báo bí mật của Đảng ở trong tù, vừa làm tài liệu huấn luyện đảng viên mới, vừa là vũ khí lý luận trong cuộc đấu tranh chính trị tư tưởng gay gắt giữa các chiến sĩ cộng sản với các nhóm tù nhân vốn là đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng. Có thể nói, Trường Chinh đã khởi đầu sự nghiệp hoạt động lý luận, tuyên truyền và văn hoá của mình ở trong chính nhà tù thực dân - trường học vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Cuối năm 1936, nhờ thắng lợi của Mặt trận Bình dân Pháp và do sức đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta, chính quyền thực dân Pháp buộc phải ân xá hàng nghìn tù chính trị ở Đông Dương, trong đó có Trường Chinh. Cánh chim bằng gặp gió, Trường Chinh hăng hái lao mình vào phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Cùng với Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang, Lương Khánh Thiện... ông tích cực xúc tiến việc thành lập lại Xứ uỷ Bắc Kỳ, nhanh chóng khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng ở các cấp tại các khu vực nông thôn và thành thị.

Đường lối mới của Đảng đã nhận được sự ủng hộ hết sức mạnh mẽ của quảng đại các tầng lớp nhân dân. Trong bối cảnh đó, Đảng ta xác định rõ vai trò rất quan trọng của công tác tuyên truyền. Đảng chủ trương lập ra một loạt các tờ báo, tạp chí công khai bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp nhằm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi chủ trương, đường lối của Đảng, mở ra một mặt trận đấu tranh công khai về chính trị, tư tưởng và văn hoá với chính quyền thực dân, thông qua đó mà vận động quần chúng, khuếch trương uy tín và ảnh hưởng trong các tầng lớp nhân dân. Một số đảng viên ưu tú, có khả năng và trình độ được Đảng phân công hoạt động trên mặt trận này, trong đó, tiêu biểu nhất là Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Bùi Công Trừng, Nguyễn Khoa Văn, Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp v.v.

Địa bàn hoạt động chủ yếu của Trường Chinh trong thời kỳ 1936 - 1939 là ở Bắc Kỳ. Có thể nói, ông chính là linh hồn, là người lãnh đạo nhóm cán bộ Đảng hoạt động báo chí tuyên truyền công khai ở Bắc Kỳ. Ông trực tiếp tham gia lãnh đạo một số tờ báo công khai lớn nhất của Đảng như tờ Le Travail, Tin tức, Đời nay, Notre voix..., đồng thời trực tiếp biên soạn nhiều tài liệu huấn luyện, tuyên truyền phục vụ cho công tác vận động quần chúng của Đảng. Với bút danh Qua Ninh, cùng với Võ Nguyên Giáp (bút danh Vân Đình), ông biên soạn và công bố cuốn "Vấn đề dân cày" vào năm 1937. Đây là một công trình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn đối với công tác vận động nông dân của Đảng.

Tháng 11.1940, Hội nghị Trung ương 7 đã diễn ra tiếp tục phân tích tình hình, hoàn thiện một bước chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng của Đảng một cách thận trọng. Tại hội nghị này Trường Chinh được cử làm quyền Tổng Bí thư của Đảng.

Năm 1941, Trung ương Đảng bắt liên lạc được với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở phía nam Trung Quốc. Sau đó Người đã khẩn trương tìm đường về nước. Từ ngày 10 đến 19.5.1941 Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng 8 diễn ra bên bờ Khuổi Nậm, Pắc Bó (Cao Bằng).

Trong Hội nghị, Trường Chinh đã trình bày chủ trương chiến lược cách mạng của Đảng trong giai đoạn trước mắt: đặt quyền lợi của giai cấp và bộ phận dưới sự sinh, tử tồn vong của toàn dân tộc; tập trung vào một nhiệm vụ duy nhất của cách mạng Việt Nam là giành cho kỳ được độc lập dân tộc. Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, tại Hội nghị, Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Chia tay với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt và các cán bộ khác của Trung ương về xuôi, khẩn trương triển khai các quyết định của Hội nghị Trung ương 8 tới các cơ sở đảng trong toàn quốc để khẳng định hướng đi tới của cuộc vận động cách mạng theo phương hướng chiến lược mới. Bên cạnh công tác theo dõi và lãnh đạo phong trào trên toàn quốc, Trường Chinh đặc biệt chú trọng, dành tâm sức cho balĩnh vực công tác đặc biệt quan trọng là: công tác tư tưởng; công tác xây dựng an toàn khu (ATK) và công tác vận động, xây dựng lực lượng ở thành thị.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Chường Trinh lãnh tụ cách mạng | Câu chuyện thời hoa lửa