Bài viết

CHƯƠNG XXX: BÓNG TỐI SAU HÒA BÌNH – NHỮNG LỰC LƯỢNG KHÔNG ĐƯỢC GHI TÊN

An Giang27/04/2026Trần Thị Ngọc Huyền (XÃ ĐOÀN ĐỊNH MỸ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau cuộc tổng tuyển cử giữa năm 1993, trên danh nghĩa quốc tế, cuộc chiến tại Campuchia coi như đã khép lại. Thế nhưng, thực tế ở dải biên giới Cam – Thái lại là một bức tranh hoàn toàn khác, đầy rẫy những toan tính và khói súng âm thầm.

Lực lượng Pol Pot lúc này tuy đã bị cắt mọi nguồn viện trợ công khai, nhưng chúng vẫn tỏ ra vô cùng ngoan cố. Chúng tự thiết lập một nền kinh tế chiến tranh dọc tuyến biên giới bằng cách khai thác gỗ rừng, đào đá quý tại Pailin, buôn bán sản vật sang Thái Lan để lấy kinh phí tự lực chiến đấu lâu dài. Mùa mưa 1993 đến mùa khô 1994, khi nhiều người đang mơ về sự yên bình, thì quân Pol Pot lại điên cuồng đánh phá Pailin, Battambang, Oddar Meanchey. Đặc biệt, chúng xây dựng Anlong Veng trở thành một căn cứ đầu não vững chắc, một pháo đài gần như bất khả xâm phạm. Trên lý thuyết, lực lượng UNTAC có mặt ở khắp các tỉnh trọng điểm: quân Malaysia ở Battambang, Hà Lan ở Banteay Meanchey, Bangladesh ở Siem Reap và Pakistan ở Preah Vihear. Nhưng thực tế, lực lượng gìn giữ hòa bình này gần như không thể can thiệp hiệu quả vào các cuộc đụng độ khốc liệt. Những đơn vị trực tiếp đánh trả và giữ đất lúc bấy giờ vẫn là các sư đoàn 196, 196B, các trung đoàn 19K, 19B cùng lực lượng tỉnh đội, biên phòng của bạn. Dù lúc này anh em đã thay đổi sắc phục sang quân đội Hoàng gia theo Hiến pháp mới, nhưng cái cốt cách và tinh thần chiến đấu vẫn là sự phối hợp chặt chẽ với các chuyên gia Việt Nam. Đó là một thực tế mà các bên đều lờ mờ nhận thấy nhưng chọn cách "làm ngơ". Bởi lẽ, họ hiểu rất rõ: nếu không có sự giúp đỡ chí tình và kinh nghiệm dày dạn của chuyên gia ta, quân đội bạn khó lòng trụ vững trước sự phá rối của Pol Pot, và chính sứ mệnh của UNTAC cũng sẽ đứng trước nguy cơ phá sản. Lúc này, những người chuyên gia Việt Nam như chúng tôi phải sống trong một thân phận "ẩn mình" đầy khó khăn. Để phù hợp với tình hình mới, chúng tôi phải cải trang qua hai lớp vỏ: khi thì là "thường dân ", khi lại khoác áo quân đội Hoàng gia. Thực tế, từ cán bộ chính quyền thân ông Hun Sen cho đến cả những sĩ quan của đảng FUNCIPEC mới vào bộ máy, họ đều biết rõ chúng tôi là ai. Nhưng có một sự im lặng đầy toan tính: họ cần năng lực và kinh nghiệm của chúng tôi để gánh vác những nhiệm vụ mà lực lượng tại chỗ chưa đủ sức đương đầu. Nghiệt ngã nhất chính là thời điểm thực hiện chính sách giảm quân số theo Hiệp định. Để đáp ứng các điều khoản quốc tế, đảng CPP buộc phải cho hàng loạt sĩ quan, chiến sĩ kỳ cựu xuất ngũ.Tôi vẫn nhớ như in những buổi chia tay đẫm nước mắt đó. Những người lính đã đi qua bao cuộc chiến, nay bị gạt ra khỏi đội ngũ chỉ vì những dòng chữ trên giấy tờ. Họ khóc lóc, van xin được ở lại, và trong sự tuyệt vọng, họ hướng ánh mắt về phía chuyên gia ta như một sự cầu cứu cuối cùng. Nhưng lúc đó, dưới sự giám sát gắt gao của các quan sát viên, chúng tôi cũng đành lực bất tòng tâm. Cái cảm giác nhìn đồng đội từng vào sinh ra tử với mình phải rời đi trong u uất là một nỗi đau thắt lòng mà không từ ngữ nào diễn tả nổi. Sự biến động không chỉ ở quân số mà còn len lỏi vào tận "xương sống" của tổ chức. Những cuộc họp Đảng trong quân đội không còn được công khai mà phải chuyển vào họp kín. Trước áp lực của môi trường chính trị đa đảng, ngay trong nội bộ đã bắt đầu xuất hiện những đảng viên có xu hướng muốn tìm kiếm một chỗ dựa tinh thần mới, công khai ủng hộ Quốc vương và Thái tử. Những cuộc tranh luận tư tưởng gay gắt diễn ra ngay trong hàng ngũ. Trước đây, chuyên gia có thể trực tiếp định hướng, nhưng giờ đây, trước những lắt léo của thời cuộc, chúng tôi chỉ có thể quan sát và chiêm nghiệm một cách lặng lẽ. Trong khi đó, ở mặt trận quân sự, Anlong Veng vẫn là một thách thức không lời giải. Đó là vùng đất mà thực sự không ai có thể bước chân lên núi nổi bởi mìn địch gài dày đặc, chỉ còn lại một lối mòn độc đạo. Từ lâu, Pol Pot đã thâm độc cho đắp đập tạo ra hồ nước nhân tạo Lake Anlong Veng rộng lớn. Cái hồ ấy vừa cung cấp thực phẩm, vận chuyển gỗ, vừa là một "trận đồ bát quái" trên mặt nước. Ở đó, dân chài và lực lượng trinh sát của địch trà trộn vào nhau, không tài nào phân biệt nổi. Mọi động tĩnh của ta đều bị chúng nắm bắt ngay tức khắc. Nhớ năm 1990, trung đoàn 19K sau hàng tháng trời mật phục đã tổ chức đánh một trận dằn mặt tại các đoạn lạch hẹp. Nhưng sau đó, nhận thấy sự hiểm hóc và cái giá phải trả quá lớn khi đối phương ẩn hiện như bóng ma giữa lòng dân, chúng ta đã chủ động chọn phương án vây hãm, kiềm chế thay vì tấn công trực diện để tránh tổn thất cho dân thường. Hòa bình ở bề mặt thực chất che đậy một cơn sóng ngầm trong lòng chính quyền liên hiệp. Những mâu thuẫn giữa các bên, những quân bài dự phòng và cả sự rạn nứt trong mệnh lệnh chỉ huy đã tích tụ ngày qua ngày. Tất cả những nén chặt đó cuối cùng đã dẫn đến vụ chính biến năm 1997 – một kết quả tất yếu của giai đoạn "hòa bình giả tạo", nơi các bên chỉ tạm dừng súng để chuẩn bị cho một cuộc đối đầu sinh tử mới. Chiến tranh không hề kết thúc vào năm 1993. Nó chỉ chuyển hóa từ tiếng súng sang những giọt nước mắt của người lính bị thải hồi, từ những trận đánh trực diện sang những cuộc đấu tranh tư tưởng âm thầm trong bóng tối. Và trong cuộc chơi quyền lực khắc nghiệt ấy, những người "không tên" như chúng tôi vẫn phải lầm lụi bước tiếp, làm điểm tựa thầm lặng để đất nước Chùa Tháp không rơi lại vào tay lực lượng diệt chủng. Ngày nay, du khách có thể thong dong đứng trên sân nhà của Pol Pot hay Ta Mok để nhìn ngắm cảnh quan, nhưng ít ai biết rằng dưới lớp đất ấy, mìn vẫn còn nằm đó như những con thú dữ chưa được tháo cũi. Nó như một lời nhắc nhở rằng, dấu tích của cuộc chiến này vẫn chưa bao giờ thực sự phai nhạt trong ký ức của những người trong cuộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn