Bài viết

Chuyện Bác Hồ đặt tên cho tỉnh Quảng Ninh

Quảng Ninh22/12/2025Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Hà An (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Hà An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 30/10/1963, tại phiên họp toàn thể Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ 7, tất cả các đại biểu đã nhất trí thông qua tờ trình của Chính phủ về việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành một tỉnh mới. Thế nhưng, trước đó ít nhất ba năm, vấn đề xây dựng vùng Đông Bắc thành một đơn vị hành chính vững mạnh đã được đặt ra cấp bách, và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp theo dõi, chỉ đạo.

Câu chuyện đặt tên tỉnh gắn liền với chuyến thăm của Bác Hồ về Hải Ninh ngày 19-20/2/1960. Ngồi trên trực thăng, khi máy bay bay qua đảo Cái Bầu, Bác nhìn xuống đất liền và hỏi đồng chí Hoàng Chính: “Đây là đâu rồi?”

Chưa kịp trả lời, Bác đã giải thích: “Hải Ninh và Hồng Quảng núi sông biển trời liền một dải. An Quảng, Quảng Yên là đây, xa hơn nữa là An Bang, là Hải Đông, có đúng không chú Hoàn?”

Bác nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử: “Thời Trần, Hải Đông lừng lẫy chiến thắng Bạch Đằng giang”, khiến đồng chí Hoàng Chính nhớ mãi cái tên Hải Đông.

Ba năm sau, khi việc hợp nhất hai địa phương đã được Trung ương quyết định, Hội đồng nhân dân hai nơi tiến hành họp bàn về tên tỉnh. Hải Ninh đề xuất Hải Đông, Hồng Quảng có nhiều ý kiến: Quảng Yên, An Quảng, Yên Quảng… Có người đề nghị Hồng Hải, kết hợp chữ Hồng của Hồng Quảng và chữ Hải của Hải Ninh, nhưng bị phản bác vì trùng tên Biển Hồng Hải. Dù cuộc họp diễn ra sôi nổi, cuối cùng không có sự nhất trí, Hội đồng phải xin ý kiến Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Giữa tháng 9/1963, đồng chí Hoàng Chính được mời ở lại ăn cơm với Bác Hồ sau một cuộc họp các Bí thư Tỉnh ủy. Trong bữa cơm, Bác hỏi về việc đặt tên tỉnh. Đồng chí Hoàng Chính báo cáo kết quả thảo luận. Bác mỉm cười: “Tên Hải Đông gợi nhớ thời Trần oanh liệt, nhưng thực chất nó chỉ là chỉ vùng biển phía Đông. Tôi đã bàn với nhiều đồng chí, và đề nghị lấy mỗi tỉnh một chữ cuối của Hồng Quảng và Hải Ninh, ghép lại thành Quảng Ninh – vừa dễ hiểu, dễ nhớ, lại có nhiều nghĩa. ‘Quảng’ là rộng lớn, ‘Ninh’ là yên vui, bền vững. Quảng Ninh là một vùng rộng lớn, yên vui, bền vững.”

Bác còn nói thêm: “Nước bạn có Quảng Đông, Quảng Tây, ta có Quảng Ninh. Đôi bên cùng nhau xây dựng tình hữu nghị, cùng nhau thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, được không?”

Ý tưởng của Bác Hồ khiến tất cả cán bộ hiểu ra tầm sâu sắc của hai chữ Quảng Ninh – vừa kết hợp hai địa phương, vừa chứa đựng ước vọng về một vùng đất rộng lớn, yên bình và thịnh vượng.

Ngày 1/1/1964, tỉnh Quảng Ninh chính thức đi vào hoạt động, gồm 3 thị xã: Hồng Gai (tỉnh lỵ), Cẩm Phả, Uông Bí và 11 huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu, Cẩm Phả, Đầm Hà, Đình Lập, Đông Triều, Hà Cối, Hoành Bồ, Móng Cái, Tiên Yên, Yên Hưng. Đồng chí Nguyễn Thọ Chân làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Hoàng Chính làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh.

Việc đặt tên tỉnh không chỉ là thủ tục hành chính, mà còn là biểu tượng của sự thống nhất, của ý chí xây dựng một vùng đất giàu truyền thống, rộng lớn, yên vui và bền vững – đúng như mong muốn và tư tưởng của Bác Hồ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn