Bài viết

Chuyện chiến trường của ông "Phú Ninh Phong"

Bảy mươi lăm tuổi, mấy lần cấp cứu ở viện nhưng ông vẫn lạc quan lắm: “Số tớ là phải qua nhiều thử thách. Ở chiến trường mấy lần tưởng chết, về già cũng ít nhất hai lần đã chạm vào “cửa tử”.

Hà Tĩnh16/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giờ thì cũng tạm ổn, chỉ còn hơi... nặng tai thôi”- ông cười khà khà. Nói đoạn, ông kéo tôi ra ngoài: “Đi, sang quán ăn của vợ chồng thằng con trai tôi “làm” bát bún, tớ kể chuyện chiến trường cho mà nghe”…

Người đàn ông đó là Phạm Như Phú, cựu chiến binh ở phường Ninh Phong, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

Ông Phú có tuổi thơ gian khó, đầy nước mắt. Bố ông là một thợ mộc giỏi có tiếng, tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương. Một ngày cuối năm 1951, trong trận càn của giặc Pháp, bố ông cùng người chú tên Biếc là Thôn đội trưởng du kích và ông Thoa ở xóm Trại bị địch bắt. Chúng tra tấn dã man nhưng không moi được tin tức gì từ ba cán bộ kiên trung. Để khủng bố tinh thần quần chúng nhân dân, chúng lôi ba ông về sân đình làng Phúc Lộc, cột vào gốc thông và xử bắn. Trước khi hy sinh, các ông còn hô to khẩu hiệu: Nhiệt liệt ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh! Đả đảo đế quốc Pháp! Đảng Lao động Việt Nam muôn năm!

Cựu chiến binh Phạm Như Phú.

Tấm gương hy sinh anh dũng của người cha nuôi dưỡng tinh thần cho cậu bé Phú trong những ngày lao động, học tập ở quê. Mỹ đổ quân vào miền Nam, chiến tranh lan ra khắp nước, tiếng trống tòng quân vang khắp nơi. Tháng 9-1965, tạm biệt mẹ và người vợ trẻ, Phạm Như Phú lên đường ra trận, trong đội hình của Trung đoàn 101, Sư đoàn 325C.

Dũng sĩ diệt máy bay Mỹ

Trong những năm tháng chiến trường, Phạm Như Phú chiến đấu dũng cảm, là một xạ thủ trung liên nổi tiếng trung đoàn với nhiều trận đánh, chiến dịch quan trọng, từ Cồn Tiên, Dốc Miếu đến Khe Sanh, Tà Cơn, Làng Vây và tham gia Chiến dịch Mậu Thân 1968… Sau này ở các cương vị chỉ huy, ông lập nhiều chiến công xuất sắc với cách đánh táo bạo, hiệu quả cao. Kỷ niệm đáng nhớ mà ông thấy thích thú là hai lần bắn máy bay Mỹ, một lần ông dùng khẩu AK gãy báng tiêu diệt trực thăng và lần chỉ huy tiểu đội vào sát sân bay địch, phục kích và bắn rơi chiếc C130 cùng 7 tên địch trong tổ lái.

Cuối năm 1967, Đại đội 3, Tiểu đoàn 74 của ông vào đến chiến trường Tây Nguyên, do đường hành quân xa, khí hậu khắc nghiệt, nhiều người bị sốt rét. 6 khẩu 12,7mm dồn lại xuất kích chỉ được 5; Tiểu đội 5, Trung đội 3 của ông chỉ còn 5 người chiến đấu được. Một hôm, trên đường từ tiểu đoàn về, ông Phú thấy một khẩu AK gãy báng (có thể do bom, pháo) treo trên một cây luồng, do đoàn vận chuyển thương binh, tử sĩ vừa đi qua để lại. Được đơn vị nhất trí cho sử dụng, ông về hầm lấy búa pháo và dao tông vạc nhẵn chỗ gãy thành khẩu AK… không báng. Ông dùng khẩu súng này để trực chiến cùng tiểu đội 12,7mm.

Mấy hôm sau, vào khoảng 2 giờ chiều, khi đang bắn yểm trợ cho bộ binh thì khẩu đội 12,7mm của ông Phú bị địch phát hiện. Từng tốp máy bay địch thay nhau cắt bom, bắn rốc-két trùm lên trận địa. Cả khẩu đội vẫn kiên cường chống trả, bắn cháy 2 phản lực, 1 trực thăng. Một quả bom đào nổ gần hầm pháo, làm khẩu 12,7mm lật nghiêng không bắn được nữa. Bọn “giặc trời” hí hửng, chúng cho một trực thăng bay thấp bổ nhào vào trận địa, phóng một loạt 3 quả rốc-két, sau đó sà xuống quan sát. “Khẩu đội có 5 người do anh Tính chỉ huy. Anh Tính, anh Phúc và tôi mỗi người một khẩu AK chia 3 hướng để đánh trả máy bay địch, số còn lại thì kê kích lại khẩu 12,7mm để tiếp tục chiến đấu. Chiếc trực thăng lao đến, anh Tính hô: “Nó đấy, Phú bắn đi”. Tôi bình tĩnh, dùng chiếc AK không báng của mình ngắm đúng đầu chiếc trực thăng siết một loạt 4 viên, rồi bồi thêm loạt nữa. Chiếc trực thăng bốc khói, lảo đảo rơi xuống quả đồi phía sau. Anh em mừng quá, reo ầm lên. Anh Tính vỗ vào vai tôi: “AK bỏ đi mà cậu cũng “xơi” được một cái, diệt hai tên. Tuyệt quá”. Choáng váng trước đòn tiến công của ta, sau 3 giờ oanh tạc, bỏ lại 4 xác máy bay, bọn “giặc trời” chạy mất hút”-ông Phú hỉ hả kể.

Sau trận đánh, tên tuổi và chiến công của “Phú Ninh Phong” được tuyên truyền trên báo và phổ biến rộng rãi ở mặt trận. Năm đó ông được bầu là Chiến sĩ thi đua đơn vị, được kết nạp Đảng và chỉ định làm tiểu đội trưởng. Khẩu AK báng gãy ấy được đưa về trưng bày tại phòng truyền thống Mặt trận B3.

Cuối năm 1969, Tiểu đội trưởng Phạm Như Phú nhận lệnh tổ chức phục kích bắn bằng được máy bay vận tải C130 hằng ngày vẫn chở hàng từ đồng bằng lên. Cái khó lần này, để giữ bí mật về lực lượng, trên không cho sử dụng 12,7mm mà chỉ được dùng trung liên RPD và AK. Ngày thứ nhất do phục xa, không đúng đường bay nên không kết quả. Hôm sau, với quyết tâm tiêu diệt bằng được C130, ông Phú chỉ huy tiểu đội táo bạo vượt qua các nương lúa, các vọng gác của bọn bảo an, nằm ép dưới đám cây cỏ, trên đỉnh một ngọn đồi, chỉ cách sân bay của địch 500-600m. Nằm ở đây, các ông còn nghe rõ tiếng địch và tiếng bà con làm nương ở dưới sườn đồi nói chuyện râm ran.

Khoảng 9 giờ, chiếc máy bay C130 phành phạch bay tới. Ông Phú nhận định, lúc này mà bắn thì không chắc ăn bằng khi chúng trả hàng xong và bay lên. Ông hiệp đồng: Khi có lệnh bắn thì tập trung điểm bắn vào đầu máy bay, trong đó trung liên 100 viên bắn 3 loạt, còn AK 30 viên cũng 3 loạt.

Khoảng 10 giờ 30 phút, chiếc máy bay C130 lù lù bay lên. Để cho nó bay vòng thứ nhất, đến cua thứ hai, vào đúng tầm bắn hiệu quả nhất, Tiểu đội trưởng Phú hô to: Bắn. Đồng loạt trung liên và tiểu liên dõng dạc lên tiếng. Chiếc máy bay chao đảo, tắt máy và rơi xuống quả đồi ngay cạnh. Phát hiện đội hình của ta, các loại súng, pháo của địch ở gần đó nã tới tấp như mưa. Ông Phú ra lệnh cho anh em rút lui. Máy bay phản lực lao đến, bộ binh địch kéo ra. May nhờ sự chi viện kịp thời của tiểu đoàn, tiểu đội của ông Phú đã thoát vòng vây về căn cứ an toàn.

Sau chiến công bắn rơi chiếc C130 và 7 tên giặc Mỹ trong tổ lái, tiểu đội của ông Phú được bình bầu, khen thưởng, riêng ông được tặng Huân chương Chiến công và Bằng Dũng sĩ diệt máy bay.

Những đồng đội không trở về

Chiến tranh đã lùi xa hơn 4 thập kỷ, nhưng cựu chiến binh Phạm Như Phú vẫn không thể nào quên những gương mặt đồng đội thân yêu mãi mãi không trở về. “Nhắm mắt lại vẫn thấy họ. Ám ảnh ghê lắm!”, ông bảo thế.

Ông nhớ như in trường hợp hy sinh của anh Màn, Trung đội trưởng Trung đội 1, Đại đội 3 của mình. Anh Màn quê Hải Dương, là người lớn tuổi trong đơn vị, đã có vợ con, sống rất vui vẻ, gần gũi. Anh chỉ huy và chiến đấu dũng cảm; trung đội anh khi đánh Cồn Tiên, Dốc Miếu đã bắn rơi và cháy 5 máy bay, có 2 trực thăng, trong Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh tiêu diệt 7 máy bay, có 2 phản lực. Một ngày đầu tháng 5-1968, khoảng 5 giờ, pháo địch bắn vào khu vực Đại đội 3 đang trú quân. Trong tiếng pháo nổ xé trời đất, anh Màn hô mọi người chạy xuống hầm. Anh là người đi sau cùng, vừa đến cửa hầm, một quả pháo nổ cách đó chừng 15m. Một mảnh pháo văng đúng vào ngực trái và anh hy sinh tại chỗ. “Khi bom vừa dứt, chúng tôi khiêng anh Màn lên núi chôn cất. Đoạn đi lên ngắn nhưng rất dốc, thi thể anh được buộc vào đòn thế mà vẫn trôi. Hì hục mãi mới đưa anh được đến nơi. Cũng từ đó, nơi đây được bộ đội và nhân dân gọi là “dốc Ông Màn”-ông Phú kể.

Công việc thường ngày của ông Phạm Như Phú. Ảnh: Vĩnh Thăng.

Trong một trận chiến đấu khác, khi Phạm Như Phú là tiểu đội trưởng đã cùng đồng đội quần thảo với lũ “giặc trời”. “Sau một hồi đánh không thành, địch tăng cường một tốp 3 chiếc trực thăng đến “quây” khẩu đội tôi. Một chiếc sà thấp, bắn một một loạt 12,7mm, đạn bay chiu chíu, cắm vào hầm pháo. Trong đó, một viên đi đúng vào khe giữa tôi và Tự, một viên vào khe giữa Tự và Phúc. Đường đạn hôm ấy chỉ chệch khoảng 30cm thì thương vong là khó tránh khỏi. Tuy nhiên, trận ấy ở hầm cảnh giới cách chúng tôi khoảng 40m, anh Lập đã hy sinh. Anh Lập quê ở Đức Thọ, Hà Tĩnh, cùng lứa tuổi với tôi. Trong lúc quan sát đường đạn của khẩu đội để kịp thời thông báo điều chỉnh, anh đã trúng loạt rốc-két của địch”-ông Phú nghèn nghẹn nhớ lại.

Cùng đại đội với ông cũng có một người tên Phú. Chiến sĩ trẻ này quê Nam Định, nhanh nhẹn, đẹp trai và hơi bướng bỉnh. Tháng 7-1974, chiến sĩ Phú được biên chế về khẩu đội 12,7mm của Đại đội 17 (do ông Phạm Như Phú chỉ huy) tham gia giữ chốt. Một hôm, nhân lúc không có chiến sự, chiến sĩ Phú xin Trung đội trưởng Đức xuống chỗ anh nuôi tắm. Khi địch tiến công lên chốt lần 2, chiến sĩ Phú mới trở lại vị trí chiến đấu. Nhận lệnh của trung đội trưởng, anh xách khẩu B40 và 2 quả đạn lên hầm pháo. Đúng lúc đó, anh phát hiện một tốp địch đang chỉ trỏ ở lùm cây, cách hầm khoảng 50m. Anh bắn một quả đạn diệt cả 4 tên nhưng chưa kịp rút thì bị địch bắn tỉa và hy sinh.

Kể lại những trường hợp hy sinh của đồng đội, giọng ông Phú chùng xuống, đôi mắt người đàn ông ngoài thất thập, vốn dĩ rất lạc quan ấy, bỗng ươn ướt và xa xăm: “Chiến tranh khốc liệt và mất mát nhiều quá. Có những thời điểm cả trung đội tôi hy sinh chỉ còn hai người. Những anh Màn, anh Lập, em Phú và biết bao đồng đội khác mãi mãi không trở về nhưng không ai quên họ”… ông thủ thỉ như nói với riêng mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn