Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Chuyện chưa bao giờ kể

Câu chuyện của đồng chí Hà Hợp (C4 - K10 Tỉnh đội Thừa Thiên) về một buổi chiều giáp Tết

Hà Nội14/10/2026Nguyễn Viết Nam (xã Thuận An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

CHUYỆN CHƯA KỂ BAO GIỜ

Màu tím này rất Huế phải không em

Để anh nhớ những năm dài xa Huế

Em ở đâu? Nơi chân trời góc bể

Kỷ niệm một thời không thể mờ phai

(Trích thơ Hà Nhuận)

Hôm đó đúng vào ngày cúng tiễn ông Táo lên trời 23 tháng Chạp năm 1972, đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân xuống xã Phong Nhiêu, Phong Điền giữ đất sau khi Hiệp định Paris ký kết. Gần sáng ngày 24 Tết, Đại đội tôi tập kết tại một làng không có dân ở, tiến hành đào công sự sẵn sàng chiến đấu. 8 giờ sáng, một trung đoàn của Sư đoàn 1 ngụy tấn công trên toàn tuyến của Tiểu đoàn, một trận chiến đấu ác liệt đã xảy ra. Tôi không muốn kể về trận đánh vì đã là lính thời chiến thì phải đánh nhau đó là lẽ thường tình, suốt mấy ngày sau cứ 8 giờ sáng địch tấn công, ta quyết liệt giữ đến 16 giờ địch rút quân. Ngày 28 Tết, đơn vị cử tôi, Đô và Hảo đột nhập vào một làng có dân bên cạnh để nắm tình hình địch và mua lương thực. Tối hôm đó, chúng tôi men theo bờ ruộng cạnh đường cái, tiến sát đến bìa làng nằm im quan sát động tĩnh. Trời tối đen, mưa phùn giăng giăng, từng đàn đom đóm lập lòe bay lượn, không gian tĩnh mịch chỉ có tiếng côn trùng kêu rả rích, thỉnh thoảng một vài giọt mưa rơi qua cổ áo ngấm vào da thịt lạnh buốt. Một lúc sau, chúng tôi quyết định vào căn nhà đầu tiên nằm ngay cạnh đường cái, ánh đèn nê ông từ trong nhà hắt ra soi rõ cả lối đi, một cây hồng xiêm cổ thụ cành lá xum xuê án ngay đầu ngõ, vào gần đến nơi, Đô nói nhỏ với tôi:

- Hai cậu vào đi, mình gác ngoài này cho. Tôi và Hảo bước vào một căn nhà gỗ ba gian, gian chính giữa cửa mở toang, một chiếc chiếu hoa trải rộng giữa nền gạch đỏ, trên đó lỏng chỏng đủ thứ nguyên liệu gói bánh, một bà trạc 50 tuổi ngồi xoay lưng lại phía chúng tôi đang chăm chỉ gói bánh. Tôi cắt tiếng chào:

- Chúng con chào mệ.

Bà giật nảy mình, chiếc bát đang cầm trên tay rơi xuống thùng nếp, Bà quay ngoắt lại nhìn chúng tôi, cặp mắt hơi thảng thốt, một lúc sau khi đã trấn tĩnh lại bà mới trả lời:

- Chào hai chú, mời hai chú ngồi chơi.

Tôi và Hảo ngồi sà xuống chiếc chiếu hoa, đầu súng gác trên vai Hảo liếng thoắng:

- Mệ ơi! Mệ gói bánh đẹp quá!

Bà không nói gì chỉ mỉm cười, tôi lấy lạt buộc chặt những chiếc bánh tét khi bà gói xong (ở vùng này hàng đêm du kích và cán bộ xã thường xuống làm công tác dân vận nên nhân dân cũng đã quen rồi). Một lúc sau bà quay sang hỏi tôi:

- Ngoài quê các cháu có gói bánh này không? Tôi chưa kịp nói gì thì thằng Hảo đã cướp lời (cái thằng nhanh nhẩu):

- Dạ ngoài chúng con Tết chỉ gói bánh chưng chứ ít gói bánh tét.

Nhìn bà tôi nhớ bố tôi, nhớ về miền quê có con sông Ngàn Phố hiền hòa như dải lụa đào uốn quanh ôm lấy cái phố thị bé tẹo nằm dọc theo đường quốc lộ, hai bên đường đỏ rực màu hoa phượng và tiếng ve kêu râm ran mỗi khi mùa hè đến, càng nghĩ tôi càng thương bố tôi, tuổi đã cao lại ở một mình vì mẹ tôi mất sớm. Hôm lên đường tôi chỉ nói với bố tôi một câu: “Sống con về, chết thì thôi chứ con không viết thư đâu”. Thường ngày bố tôi ít uống rượu, hôm tiễn tôi đi bố tôi không nói gì, suốt bữa ăn chỉ ngồi uống rượu, trước khi đi nằm ông gọi đứa cháu con anh đầu mới 11 tuổi và dặn cháu phải đưa chú đến nơi tập trung mới được về. Rất may là chỗ tập kết chỉ cách nhà khoảng 600 mét, thế là tôi đi trước, cháu tôi với chiếc bị lác đựng vài thứ lặt vặt đi sau vừa đi nó vừa khóc.

- Chú ơi là chú ơi! Tôi quay lại quát.

- Mày có im đi không? Tao đã chết đâu mà mày khóc.

Nước mắt tôi ứa ra từ lúc nào, đang suy nghĩ miên man chợt tôi nghe tiếng bước chân, theo phản xạ của người lính tôi gạt nước mắt hất nòng súng ra khỏi bả vai quay lại. Trước mặt tôi là một cô gái chừng 18 tuổi, khá xinh, mặc bộ đồ màu tím hoa cà có điểm đôi bông hoa màu trắng, chân đi đôi dép lê, tóc xõa ngang vai đầu nghiêng nghiêng, hai tay đang vò lên mái tóc, mùi dầu gội đầu từ cô gái tỏa ra thơm dìu dịu. Tôi thấy ngồ ngộ vì trên rừng các cô giao liên thường mặc quân phục hoặc quần áo bà ba đen. Ngày xưa khi chúng tôi còn là những cô cậu học sinh cấp 3 chỉ biết các cô gái Huế qua thơ ca, sách vở đại loại:

“Học trò trong Quảng ra thi

Thấy cô gái Huế bỏ đi không đành.”

Sau này khi giải phóng Huế, làm ở Ủy ban quân quản thành phố, mỗi lần đi qua trường Đồng Khánh dịp buổi tan trường, gặp các cô nữ sinh với áo dài tha thướt, vành nón trắng nghiêng nghiêng như những đàn chim nhỏ. Có lần một đồng đội tôi vừa đi vừa mãi nhìn vấp vào rễ cây ngã bật cả đế giày chúng tôi mới đổi câu thơ thành:

“Lính tráng Hà Tĩnh vô đây

Thấy cô gái Huế ngã quay ra đường”

Đang mải nghĩ Hảo giật tay áo tôi mới bừng tỉnh, cô gái cất tiếng nhỏ nhẹ (tôi đảm bảo với các bạn rằng giọng Huế ngoài đời nghe ngọt ngào dễ thương hơn giọng các cô phát thanh viên trên đài phát thanh):

- Cháu chào các chú

Hảo trả lời (lúc nào nó cũng nhanh miệng hơn):

- Hai chú chào cháu.

Một lúc sau cô gái hỏi tiếp: “Rứa các chú đã mua được chi chưa?” (lại chú nữa rồi, tôi và Hảo chỉ hơn cô gái một hai tuổi thôi), tôi mỉm cười lắc đầu thay cho câu trả lời; Hảo cất tiếng hát khe khẽ, một câu hát trong bài đừng gọi anh bằng chú. Tôi lừ mắt, Hảo im bặt (tôi nghĩ Chính trị viên đơn vị mà nghe thấy thì mày rồi đời Hảo ạ). Mặc dù Hảo hát rất nhỏ nhưng có lẽ cô gái nghe thấy nên từ đó đổi cách xưng hô khi nói chuyện với chúng tôi, mặc dù vẫn gọi chú nhưng không xưng cháu mà xưng tên, qua đó tôi biết cô gái tên Hoa.

Đang xếp bánh vào thúng với tôi chợt Hoa cất tiếng: “Hai chú chờ Hoa một tý”, nói xong Hoa bước vào buồng bên cạnh, một lúc sau bước ra, trên tay cầm mấy gói thuốc Ru Bi, hai hộp cá, hai ống mỳ chay vừa đi vừa nói:

- Hoa mua ăn tết, hai chú không mua được chi cầm về cho đơn vị dùng tết. Nói xong Hoa bỏ vào chiếc ba lô của Hảo đang để trên chiếc ghế. Bên ngoài chợt có tiếng gọi của Đô, tôi và Hảo chạy ra. Độ bảo một chiến sỹ của đại đội bạn cùng vào làng thông báo có toán địch từ cuối làng đi lên, phải rời làng ngay nếu không đụng độ với địch sẽ gây liên lụy đến dân. Tôi quay vào thì không thấy cô gái đâu, tôi đưa tiễn nhờ bà trả cho Hoa, bà giãy nảy không nhận: Nó bảo biếu các chú, tôi nhất quyết không chịu cuối cùng bà bảo: “Tối mai các chú đến đây giả tiền cho nó, sẵn mệ nấu xong bánh các chú cầm ít về mà ăn tết”. Không có cách nào khác hơn, tôi và Hảo chào bà và rời khỏi làng.

Sáng hôm sau chúng tôi nấu mỳ chay và cá hộp của cô gái, gọi là ăn tết, đang ăn Hảo đặt bát xuống đứng dậy (ông tướng này lại giở quẻ gì đây) nói đứng nghiêm, tay phải đưa lên vành tai chào: "Báo cáo Đại đội trưởng, hôm qua đơn vị suýt mất một chiến sỹ vì có cô gái đẹp nên chiến sỹ đó nằng nặc xin bà cụ ở rể”. Không ngờ đây là giây phút cuối cùng của Hảo ở với chúng tôi, vì sau đó Hảo đã hy sinh anh dũng khi chiến đấu với địch. Buổi chiều ngày 29 không như thường lệ địch lại đóng quân tại tất cả các làng xung quanh, thế là tôi lỡ hẹn với bà và cô gái. Ngày Mồng bốn Tết địch tăng thêm quân, lúc này xuất hiện cả lính dù và thủy quân lục chiến, chúng điều cả xe tăng, có thể nói đây là trận chiến khốc liệt nhất trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Buổi chiều, đại đội tôi chỉ còn 22 tay súng kể cả chỉ huy. 23 giờ đêm hôm đó chúng tôi được lệnh rút lên vùng Thanh Tân, Sơn Quả thuộc xã Phong Sơn, huyện Phong Điền tiếp tục giữ đất.

Ngày 26/3/1975 Huế hoàn toàn giải phóng, vì bận việc liên miên mãi đến tháng 6 năm 1975 tôi mới có dịp về nơi xảy ra chiến sự ngày xưa để thăm bà và cô gái. Vẫn lối đi xưa, vẫn căn nhà cũ đó nhưng cửa đóng im im, lá khô rụng đầy vườn, không có một bóng người. Tôi hỏi thăm nhà bên cạnh được biết chồng bà là bác sỹ, đầu 1975 đưa cả nhà vào Sài Gòn, sau đó di tản sang nước nào chẳng rõ.

Từ đó tới nay, tôi chưa có dịp gặp lại bà và cô gái đó, song dấu ấn về kỷ niệm bữa xuống đồng bằng dịp Tết năm ấy luôn in đậm trong tâm trí tôi...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn