Chuyện chưa kể về bức thư tuyệt mệnh của liệt sỹ Thành cổ
Câu chuyện về bức thư của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh
Đó là câu chuyện về bức thư của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh, sinh viên năm thứ 4, Khoa Xây dựng Trường đại học Bách khoa Hà Nội, quê ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, vào chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị từ những ngày đầu tháng 3/1973, viết cho gia đình vào tháng 9/1972. Bức thư hiện đã được trao lại cho Bảo tàng Thành cổ.
Ngày đó, tuy không trực tiếp đối mặt với kẻ thù, song sự ác liệt của chiến tranh được những người lính vận tải, trong đó có anh Huỳnh, đón nhận qua những trận bom hủy diệt hằng ngày của B52 và số chiến sỹ thương vong được chuyển ra ngoài hằng đêm không hề nhỏ. Trước những việc ấy, như một điều tiên cảm và bằng một sự bình tĩnh đến lạ lùng, Lê Văn Huỳnh đã âm thầm viết một bức thư cho mẹ, cho vợ, cho anh chị và cho cả đứa cháu trai bé bỏng chưa đầy tuổi của mình.Bức thư chứa đựng những điều thiết tha nhưng cũng đầy khí phách mà 30 năm sau khi được công bố, di vật ấy vẫn còn thấy thấm thía hơn bao nhiêu trang sách đã viết, bao nhiêu điều đã bàn luận về chiến tranh... Xin được trích một đoạn trong bức thư ấy, phần viết cho chị Đặng Thị Xơ, vợ anh, người phụ nữ mới thực sự 7 ngày làm vợ và hơn 30 năm đằng đẵng chờ chồng:
“... Em sẽ đọc thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khoẻ những người quen thuộc trên quê hương trong buổi lễ truy điệu lịch sử này. Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống hòa bình hãy nhớ tới anh. Nếu thương anh thực sự thì khi hòa bình có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về. Đường đi như sau: đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông. Từ thị xã qua cầu ngược trở lại hỏi thăm về Nhan Biều 1, nếu tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Về đấy tìm sẽ thấy bia ghi dòng chữ tên anh đục trên mảnh tôn. Thôi nhé, đó là có điều kiện, còn không thì em hãy cứ làm tốt những điều anh dặn ở trên là tốt lắm rồi...”
Sau khi anh Huỳnh hy sinh, bức thư vẫn còn nằm trong balô và được đồng đội chuyển về cho gia đình. Bao lâu nay, lá thư vẫn được chị Xơ đặt trên bàn thờ anh như một kỷ vật mà anh để lại. Mãi đến khi tìm được mộ anh, người ta mới biết được câu chuyện về lá thư này. Lạ kỳ thay khi những điều anh Huỳnh viết trước lúc hy sinh về sau đều đúng như một lời tiên tri. Điều khác duy nhất là ngôi mộ của anh sau này được tìm ra là một trong 3 ngôi mộ nằm ở thôn Thượng Phước, chứ không phải ở Nhan Biều 1 nằm kề đó.
Cuộc sống vốn có biết bao điều kỳ lạ, nhưng những điều kỳ lạ như trong bức thư của anh Huỳnh thì thực sự khó có thể nào giải thích được. Tất cả mọi lý giải hôm nay đều chỉ là phỏng đoán. Ngay cả việc ngôi mộ của anh được tìm thấy cũng như một cơ duyên...
Năm 1973, khi mặt trận đã im tiếng súng, bà Nguyễn Thị Ngân trở về làng cũ tại thôn Thượng Phước, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, một làng nhỏ ven bờ Bắc sông Thạch Hãn làm ăn. Thấy trong vườn nhà có 3 ngôi mộ liệt sĩ, có mộ chí khắc bằng tôn, bà Ngân cũng như bất kỳ người dân nào ở vùng này, đã dành công chăm sóc và khói hương chu đáo. Hoà bình lập lại, đã 2 lần địa phương đến quy tập những ngôi mộ đó về nghĩa trang của tỉnh, nhưng đều không tìm được hài cốt nên chuyện những ngôi mộ cũng dần dần bị quên lãng. Tuy vậy, như có điều gì đó mách bảo, bà Ngân vẫn gom 3 tấm mộ chí bằng tôn đó về một góc vườn để hương khói.
Rồi đến một ngày cuối năm 2002, chị Xơ và đồng đội tìm về, lần này thì họ đã tìm được anh, ngay chính tại nền đất mà bao lâu nay ai ai cũng đã tưởng rằng vô vọng... Có người giải thích chuyện này là do những thay đổi của nền đất tại khu vườn; nhưng cũng có người bảo đấy là anh vì đã hẹn nên cố “chờ” chị đến đón về...
Khi chúng tôi tìm về khu vườn của gia đình bà Ngân, nơi anh Huỳnh và hai người đồng đội của anh đã yên nghỉ suốt 30 năm trong lòng đất, thì việc quy tập hài cốt các anh đã hoàn tất từ lâu. Ông Nguyễn Hậu, con trai cụ Ngân, người mà sau này đã thay mẹ gìn giữ phần mộ của các anh, đã nói một câu giản dị mà chân thật đến bất ngờ: “Ở cái đất Quảng Trị này nơi mô mà chẳng có máu xương của anh em mình gửi lại. Tôi đã thấy nhiều người tuy không tìm được hài cốt con em mình, nhưng biết họ đã hy sinh tại đây, thịt xương đã tan vào trong đất, thì chỉ cần một nắm đất đem về thờ phụng cũng là mãn nguyện lắm rồi, huống chi vườn nhà mình còn cả mộ chí thì phải ráng mà giữ...”.
Điều này có lẽ chính anh Huỳnh cũng không ngờ tới, nhưng anh đã tiên cảm được, rằng anh sẽ bình yên an nghỉ trong lòng đất Việt Nam, giữa lòng người Việt Nam...



