Bài viết

CHUYỆN CHƯA KỂ VỀ NHỮNG NGƯỜI LÀM NÊN LỊCH SỬ

Ninh Bình07/05/2026HÀ NGỌC LINH (xã Bình Giang)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
chuyện chưa kể về những người làm nên lịch sử

1. Những câu chuyện được kể ấm áp, dung dị từ những người thân của các nhà cách mạng, về những mảnh ký ức riêng tư, vừa đời thường, vừa thấm dấu ấn lịch sử - những câu chuyện mà chỉ có họ, với trải nghiệm trong gia đình, mới có thể truyền lại trọn vẹn.

Bà Nguyễn Thanh Hương, con gái nhà cách mạng Nguyễn Khang (1919-1976) nguyên Thường vụ Xứ ủy, Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội (UBKNHN), mở đầu với câu chuyện tình yêu vừa ngọt ngào vừa đặc biệt của cha mẹ mình. Mối tình nảy nở giữa những ngày đất nước sục sôi chuẩn bị khởi nghĩa. Năm 1945, đoàn xiếc Tạ Duy Hiển tập trung tại Hà Đông, trái tim chàng chiến sĩ Nguyễn Khang xao xuyến bởi cô con gái Tạ Thị Thọ của ông Hiển. Nhưng giữa bộn bề công việc cách mạng, ông không biết mở lời thế nào. Sau này, nhờ ông Đặng Kim Giang, một người bạn thân thiết của cả hai gia đình mà hai người mới có dịp nên duyên.

Bà Hương cười, kể lại buổi hẹn hò đầu tiên của cha mẹ: “Hai ông bà mỗi người một chiếc xe đạp, thong thả vòng quanh bờ hồ. Mẹ tôi rủ bố ăn kem ở Hàng Đào, nhưng đến khi thanh toán thì hóa ra bố… không trả tiền, mà mẹ trả”.

Những tưởng tình cảm ấy sẽ nhanh chóng kết thành đôi, nhưng ông Nguyễn Khang vẫn kiên định: “Cách mạng chưa thành công, nhất định không lấy vợ”. Phải hơn một năm sau - 1946, khi khói lửa kháng chiến đã tạm lắng, ông mới cưới bà Thọ trong một lễ thành hôn giản dị, ấm áp giữa vòng tay hai bên gia đình. Ông Nguyễn Khang thường dạy con cháu: “Học để làm việc có ích, sống xứng đáng với đồng đội”. Sau này, ông còn góp phần hỗ trợ cách mạng Lào như một minh chứng cho tầm nhìn về tình hữu nghị cách mạng.

Tiếp nối câu chuyện, ông Trần Kháng Chiến, con trai đồng chí Trần Tử Bình (1907-1967), nguyên Thường vụ Xứ ủy, trực cơ quan Xứ ủy ở Vạn Phúc và phụ trách 10 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, đưa người nghe trở lại những ngày trước khởi nghĩa, khi công việc chuẩn bị được tiến hành khẩn trương, từng bước chắc chắn. Ông kể, cha mình từng trực tiếp gặp chỉ huy quân Nhật ở Hà Đông, thuyết phục họ không can thiệp vào công việc của nhân dân, tạo điều kiện cho lực lượng cách mạng giành chính quyền trong hòa bình. Một quyết định tưởng như chỉ là “chi tiết nhỏ” ấy lại mở ra cánh cửa cho khởi nghĩa ở Hà Đông diễn ra thuận lợi, không đổ máu, điều mà trong chiến tranh rất khó để diễn ra. Ông Chiến cũng chia sẻ những ký ức về tình đồng chí trong chiến tranh: có những lúc chỉ cần một cái nhìn hay một cái bắt tay là đủ hiểu nhau; có những đêm cả đơn vị chỉ có một tấm chăn vẫn chia sẻ đều; hay những củ sắn luộc trong hành quân cũng được bẻ đôi cho đồng đội. “Đó là tình cảm mà thế hệ chúng tôi luôn trân trọng, bởi nó được xây từ niềm tin tuyệt đối vào lý tưởng chung”, ông nói.

2. Những câu chuyện đời thường giản dị ấy lại tạo nên điều đặc biệt cho buổi tọa đàm, khi mà những câu chuyện chỉ có thể được kể, được nghe từ những con người chứng kiến. Những câu chuyện của ông Chiến, bà Thanh Hương là một trong hàng nghìn câu chuyện tình nghĩa trong suốt chiều dài lịch sử kháng chiến của dân tộc Việt Nam.

Ông Nguyễn Đoan Hùng, con trai đồng chí Nguyễn Văn Trân (1917-2018), Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ kể, cha ông, sinh ra ở Bắc Ninh, cũng lên Hà Nội học nghề in từ năm 14 tuổi. “Năm 1936, cha tôi bắt đầu hoạt động cách mạng. Đến năm 1940, ông bị bắt, tù ở Sơn La, tháng 8/1943, đồng chí Tô Hiệu tổ chức vượt ngục, cuộc vượt ngục diễn ra rất thành công. Bố tôi nhớ mãi trong quá trình vượt ngục có ông Lò Văn Giáng, người dân tộc Thái, được giác ngộ và dẫn đoàn vượt ngục, sau này khi trở về bị địch bắn chết. Trước khi mất, bố tôi vẫn căn dặn chúng tôi thăm hỏi động viên, giúp đỡ con cháu trong gia đình ông”, ông Hùng cho biết.

Nhớ lại ngày 19/8/1945, khi Trung ương họp ở Tân Trào, đoàn đại biểu Bắc Bộ do đồng chí Nguyễn Văn Trân dẫn đầu được lệnh trở về gấp. Trên đường, gặp cảnh vỡ đê ở Vĩnh Yên, đoàn không thể về kịp. Khi tới Chèm, họ thấy cờ đỏ sao vàng rợp trời, dân quân tập trung khắp bến sông. “Tới bờ bên kia, nhóm cha tôi bị nghi ngờ và tạm giữ. Phải xin mãi mới được gặp lãnh đạo, rồi may mắn được gặp đồng chí Hoàng Tùng, sau đó mới triển khai tiếp công việc”, ông Hùng kể: “Cuộc đời của bố tôi luôn luôn có 2 nguyên tắc. Một là giữ chữ tín, hai là luôn luôn phải phấn đấu, người ta làm được thì mình cũng phải làm được, nếu mình chưa làm thì tiếp tục học tập. Đó luôn là kim chỉ nam cho chúng tôi hay các con cháu của cụ”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, chia sẻ: “Lịch sử là sự nối dài ký ức. Bên cạnh các nhà nghiên cứu, nhân chứng lịch sử đóng vai trò vô cùng quan trọng. Khi bác (Đại tướng) Nguyễn Quyết mất, anh em Viện Sử học nói với nhau rằng từ giờ, lịch sử thật sự đã… đi vào lịch sử, vì không còn nhân chứng nữa. Những gia đình còn giữ được câu chuyện, bức ảnh, kỷ vật, đó là báu vật không chỉ của riêng họ, mà của cả dân tộc”.

( Theo Báo Nhân Dân (71 Hàng Trống, Hà Nội), chiều 13/8, tọa đàm “Gặp gỡ gia đình các nhân chứng lịch sử trực tiếp lãnh đạo Khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám” )

những chứng nhân của chiến thắng lịch sử

Ngày 30/4 là biểu tượng của sự hy sinh và chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Đối với những cựu binh, đó là khoảnh khắc lịch sử không thể nào quên, khi đất nước thống nhất, bao nhiêu hy sinh đã được đền đáp.

Dù thời gian đã qua, nhưng ký ức về những ngày chiến đấu và khát khao tự do vẫn luôn sống mãi trong trái tim mỗi người lính.

Chuyến hành quân gian nan, khốc liệt

Với cựu chiến binh (CCB) Trần Xuân Linh, những ngày tháng ấy chưa bao giờ phai mờ trong ký ức. Năm 1972, lúc 23 tuổi, ông gia nhập quân đội và được điều động tham gia các chiến dịch lớn tại chiến trường miền Nam.

Một hành trình dài từ Bắc vào Nam, đầy gian nan vất vả. Mỗi bước đi, mỗi chặng đường ông đi qua đều đầy ắp những câu chuyện sinh tử.

“Mưa dầm, cơm vắt”, một cụm từ quen thuộc nhưng lại gợi nhớ đến biết bao gian khó. Những đêm không ngủ vì mưa gió, những ngày hành quân với cơm vắt khô khốc, nhưng niềm tin vào chiến thắng, vào sự nghiệp giải phóng dân tộc đã tiếp thêm sức mạnh cho ông và đồng đội vượt qua tất cả.

Ông chia sẻ: “Chúng tôi, dù mệt mỏi, dù có những lúc muốn bỏ cuộc, nhưng nhìn thấy đồng đội bên cạnh, tất cả đều tiếp thêm sức mạnh cho nhau. Chiến đấu vì quê hương, vì độc lập tự do của đất nước, đó là động lực lớn nhất.”

Ngày 1/4/1975, ông và đồng đội đã tham gia chiến dịch đánh chiếm đèo Phượng Hoàng, nơi được xem là lá chắn thép của địch trong chiến dịch Tây Nguyên. Với lòng kiên cường và sự quyết tâm, họ đã vượt qua thử thách và chiến thắng, mở đường tiến vào Sài Gòn.

Chiến thắng lịch sử và những giây phút không thể quên

Kể đến đây, giọng ông nghẹn lại, những ký ức về những đồng đội đã hy sinh khiến ông không thể kìm nén cảm xúc. Trong những giờ phút quyết định của chiến dịch Hồ Chí Minh, khi cờ Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, ông đã chứng kiến sự hy sinh của đồng đội tên Phiên, người lính đến từ Yên Bái, người không kịp sống để chứng kiến giây phút vĩ đại ấy.

"Chỉ còn vài giờ nữa thôi, nhưng đồng chí Phiên đã không còn sống để nhìn thấy đất nước giải phóng," ông nghẹn ngào kể lại, một nỗi đau không thể nào quên.

Với chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh, ngày 30/4/1975, Dinh Độc Lập ngập tràn trong không khí vui mừng, nhưng đối với những người lính như Trần Xuân Linh, đó là một khoảnh khắc đầy ắp cảm xúc, vừa vinh quang, vừa tiếc nuối.

Nhiều năm sau chiến thắng, cuộc sống vẫn tiếp tục

Sau chiến thắng lịch sử, CCB Trần Xuân Linh tiếp tục tham gia chiến tranh Biên giới Tây Nam và Biên giới phía Bắc, bảo vệ biên cương tổ quốc. Năm 1993, ông trở về quê hương, tiếp tục cống hiến cho xã hội và cộng đồng, là tấm gương sáng về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, là người tuyên truyền viên tích cực, ông luôn nhớ về những ngày tháng chiến đấu, nhưng cũng không quên nhắc nhở thế hệ trẻ về trách nhiệm bảo vệ hòa bình.

50 năm đã trôi qua kể từ ngày đất nước thống nhất, nhưng ký ức về những ngày chiến đấu oanh liệt vẫn luôn sống mãi trong trái tim của những người lính như Trần Xuân Linh. Những câu chuyện của họ sẽ là bài học vô giá cho thế hệ trẻ, để mỗi người dân, mỗi thế hệ đều nhận thức được giá trị của độc lập tự do mà tổ tiên đã phải trả giá bằng mồ hôi, máu và nước mắt.

“Chúng ta phải nhớ rằng, ngày hôm nay không thể có nếu không có những hy sinh của các thế hệ đi trước. Đó là bài học về lòng yêu nước, về trách nhiệm với tương lai của dân tộc.”

Ngày 30/4 không chỉ là ngày của chiến thắng mà còn là ngày để chúng ta nhìn lại, tự hào về những gì đã qua, để tiếp tục viết nên những trang sử mới cho đất nước.

Những chiến sĩ hôm nay, dù không cầm súng, vẫn luôn chiến đấu vì những lý tưởng cao đẹp mà các thế hệ đi trước đã xây dựng.

Và để làm được điều đó, mỗi người dân cần trân trọng và gìn giữ hòa bình mà chúng ta đang có, để tiếp nối bản hùng ca của dân tộc Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn