Cựu chiến binh

Chuyện chưa kể về Trường Sơn

Trường Sơn không chỉ có bom đạn và những trận đánh ác liệt đi vào lịch sử, không chỉ bất tử bởi sự hy sinh anh dũng của các chàng trai, cô gái - những chiến sĩ, thanh niên xung phong… mà đằng sau đó, còn có những câu chuyện rất đỗi đời thường trên cung đường huyền thoại này.

Quảng Ninh13/02/2026Chi đoàn Phong Hải 1 (Đoàn phường Liên Hòa)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chuyện chưa kể về Trường Sơn

Trường Sơn không chỉ có bom đạn và những trận đánh ác liệt đi vào lịch sử, không chỉ bất tử bởi sự hy sinh anh dũng của các chàng trai, cô gái - những chiến sĩ, thanh niên xung phong… mà đằng sau đó, còn có những câu chuyện rất đỗi đời thường trên cung đường huyền thoại này.

Làm bánh rán, ủ cơm rượu

Suốt tuyến đường Trường Sơn, chiến trường nào cũng ác liệt, cũng gánh chịu biết bao mất mát đau thương trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thế nhưng, chính trong “chảo lửa” ấy, trong những căn hầm bí mật ngay sát họng súng quân thù, các chiến sĩ Trường Sơn vẫn chế tạo ra nhiều món bánh để cải thiện bữa ăn.

Các cựu chiến binh ôn lại những kỷ niệm trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại.

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Chí, nguyên chiến sĩ Trung đoàn 230, Sư đoàn 367 phòng không, kể: “Giặc bắn phá ác liệt lắm nhưng hễ ngơi tiếng súng là anh em lại phát huy sáng kiến để cải thiện bữa ăn. Thời đó, bộ đội Trường Sơn thường được cấp gạo dẻo của Trung Quốc. Ăn xong, chúng tôi vét cơm nguội đựng vào nón sắt, tìm gỗ đẽo thành chày - quết nhuyễn, rồi nắn thành bánh đem chiên. Vậy là có bánh rán ăn. Mỗi lần có người trở ra miền Bắc, anh em lại gửi mua men. Cũng từ cơm nguội, chúng tôi đem ngâm trong nón sắt, hái lá cây đắp lên trên để ủ với men làm cơm rượu”.

Cũng theo lời ông Chí, mỗi lần yên tiếng súng, trừ những chiến sĩ làm nhiệm vụ canh gác, những anh em dưới hầm lại ngồi chơi bài tiến lên, khe khẽ hát cho nhau nghe những bài hát về quê hương đất nước.

Riêng với cánh bộ đội đường ống, dọc đường hành quân, các chiến sĩ cũng tận dụng mọi thứ để làm bánh ăn dọc đường.

Ông Trần Đức Quế, nguyên bộ đội đường ống, khâu tiếp nhận xăng dầu, kể: “Mỗi kỳ nhận gạo, anh em lại nghĩ đến việc xay bột để làm bánh ướt, tạo độ ẩm để rang cốm, rồi đóng vào túi để phát cho mọi người. Riêng bánh ướt, sau khi tráng xong, anh em lại múc nước suối hòa viên Macory (viên nước mắm hòa tan - PV) để làm nước chấm. Ăn món này ngon miệng lắm, có anh ăn một lần cả 3, 4 đĩa mà vẫn chưa hết thèm.

Trong những ngày giặc bỏ bom liên tục làm tắc nghẽn đường, xe không thể qua, các chiến sĩ trên đường Trường Sơn phải chuyển gạo bằng cách lấy ni lông bọc thành nhiều lớp bên ngoài bao gạo rồi thả trôi theo dòng sông, dòng suối. Gạo thả trôi sông, phần nhiều bị thấm nước, rất mau hư. Số gạo ẩm mốc đó, sau khi nấu cơm ăn, anh em dành để ủ và nấu rượu. Thèm thuốc lá nhưng không tìm đâu ra giấy quấn, anh em bàn nhau lấy lá cây mua để vấn thử. Không ngờ, thuốc vấn lá mua lại ngon tuyệt vời” - ông Trần Đức Quế mỉm cười nhớ lại.

Chuyện tình ở Trường Sơn

Là chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn, ông Nguyễn Trọng Đa, nguyên chiến sĩ Binh trạm 38, Tiểu đoàn 87 công binh, nhớ mãi mối tình đầu nảy nở trên đường Trường Sơn của mình: “Chiến trường ác liệt, cánh lái xe trẻ chúng tôi đều tâm niệm, gặp nhau hôm nay, chưa chắc ngày mai đã còn sống nên dù khao khát yêu thương, chúng tôi cũng không dám đặt vấn đề bày tỏ tình cảm với ai. Mỗi lần qua Binh trạm 39, có một nữ chiến sĩ công binh tên là Bắc vẫn hay nhìn tôi bằng ánh mắt trìu mến, thi thoảng lại dúi cho tôi ít thanh lương khô, vài điếu thuốc lá. Vì ánh mắt đó mà tôi như có sức mạnh, động lực để vượt cung, tăng chuyến. Một lần, khi xe tôi đi qua, máy bay giặc đổ một loạt bom bi. Cô gái ấy bị thương. Khi xuống xe đỡ cô ấy dậy, tôi thấy cô bị mảnh bom ghim vào giữa ngực, mặt tái xanh, duy có ánh mắt nhìn tôi tha thiết như muốn nói một điều gì. Tôi chỉ kịp xuống xe, hỏi thăm cô ấy 1 câu, nắm tay cô 1 lần, rồi tiếp tục lên đường. Đến khi giao xong chuyến hàng trở lại, tôi mới biết cô ấy đã hy sinh. Từ ngày đó cho đến nay đã gần 40 năm, ánh mắt đó vẫn theo tôi đến suốt cuộc đời!

Cùng quê Ninh Bình, chuyện tình của anh Trần Văn Tạo và chị Nguyễn Thị Lụa lại có một đoạn kết mỹ mãn. Năm 1968, anh Tạo làm đơn tình nguyện gia nhập Thanh niên xung phong và lên đường vào Trường Sơn. Trong suốt những năm tháng ở Trường Sơn, anh Tạo đã gặp chị Lụa, một cô gái đẹp nết, đẹp người.

Từ sự mai mối của bạn bè, hai anh chị phải lòng nhau từ lúc nào không hay. Năm 1972, tại huyện Lê Thủy, tỉnh Quảng Bình, được sự đồng ý của lãnh đạo đơn vị, hai anh chị đã tổ chức lễ cưới.

Ông Tạo nhớ lại: Đám cưới tổ chức lúc chiến tranh thật đơn giản. Đơn vị chọn địa điểm tổ chức là một nhà kho cũ. Đại đội của tôi tặng hai đứa 2 tút thuốc lá và 10 gói chè Hòa Bình để đãi khách.

Anh chính trị viên đại đội đích thân cắt hai câu khẩu hiệu trên giấy học trò, vì không thể kiếm đâu ra giấy màu hồng hay màu đỏ. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ như in hai câu khẩu hiệu đầy ý nghĩa đó.

Câu đầu tiên là “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ” có ý nhắc nhở chúng tôi phải luôn nhớ đến nhiệm vụ của người lính trên chiến trường. Câu thứ hai dài hơn: “Hạnh phúc riêng tư, hạnh phúc nhà. Thắm tình tổ quốc, thắm tình ta”…

37 năm sau ngày vui ấy, hai vợ chồng ông Tạo, bà Lụa hiện đang hạnh phúc với bầy con cháu ở quê hương Ninh Bình.

Ông tâm sự: “Chúng tôi thật may mắn vì còn ở bên nhau, chứ nhiều cặp vợ chồng khác vì bom đạn chiến tranh đã phải xa cách…”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn