Người có công giúp đỡ cách mạng

Chuyến công tác đặc biệt

Trong đợt đi sưu tầm hiện vật về các anh hùng, liệt sĩ của Bảo tàng Quân đoàn 4 đợt kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1946 – 27/7/2023), tôi được gặp ông Nguyễn Kiệm - cựu chiến binh Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 273, Sư đoàn 341, Quân đoàn 4 và được nghe kể về chuyến đi tìm đồng đội của ông.

Đồng Tháp10/08/2026xã Tân Đông (Xã Tân Đông)6 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Nguyễn Kiệm nay đã 67 tuổi, chân tay không còn được khỏe mạnh như xưa nhưng tinh thần thì vô cùng minh mẫn. Với giọng nói ấm áp, đôi mắt nhìn xa xăm hồi tưởng về thời trai trẻ của mình, ông kể với tôi.


Hành quân về mặt trận Xuân Lộc

Đầu năm 1975 để chi viện cho chiến trường, Sư đoàn 341 thần tốc cơ động vào chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ, được phối thuộc trong đội hình Quân đoàn 4. Sau khi giải phóng Chơn Thành ngày 2/4/1975. Ngày 11/4/1975, Trung đoàn 273 nhận lệnh về đội hình Sư đoàn 341 đánh Xuân Lộc, Trung đoàn đã bàn giao lại trận địa và tổ chức duyệt binh trên Đường 13 trong Chi khu quận lỵ Chơn Thành vừa mới được giải phóng. Các đơn vị bộ binh theo đội hình tiểu liên đi trước, trung liên đi giữa, cối đi sau…, thành ba hàng dọc, đi đều hơn 1km, đến đoạn ngã tư rẽ về Đường 14 đi về cầu sông hướng đường Trần Lệ Xuân đi ngầm Mã Đà vượt sông Đồng Nai về Định Quán với Sư đoàn 341.

Tôi nhớ hôm đấy là ngày 12/4/1975, đội hình 2 gồm Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 273, Sư đoàn 341 xuất phát từ Đồng Xoài, tới địa điểm ngầm Mã Đà vào khoảng 11 giờ đến 12 giờ trưa, bộ đội qua một buổi sáng hành quân mệt mỏi, bi đông cũng vừa hết nước, mọi người tranh thủ nghỉ ngơi xuống suối rửa mặt, lấy nước.

Chân dung Cựu chiến binh Nguyễn Kiệm lúc trẻ.

Lúc này phía trên hai chiếc máy bay L19 đang quần lượn. Tiểu đoàn tôi đi sau cùng cũng vừa tới nơi. Định nghỉ ngơi nhưng chỉ huy đơn vị đốc thúc không được dừng lại. Khi đơn vị vừa qua suối được chừng vài trăm mét thì phát hiện chiếc máy bay L19 bắn hai quả pháo khói chỉ điểm, hàng chục chiếc phản lực nối đuôi nhau bay tới trút bom xuống. Khi khói bom vừa tan các đơn vị nhanh chóng kiểm tra quân số. Hơn 10 đồng chí hy sinh và nhiều đồng chí bị thương. Phần đông trong số này thuộc Tiểu đoàn 1. Đầu giờ chiều, các đơn vị khẩn trương kiếm tìm cứu chữa thương binh, chôn cất liệt sỹ, rồi nhanh chóng hành quân vì mặt trận Xuân Lộc đang chờ.

Chuyến công tác đặc biệt

Một kỷ niệm không thể quên trong cuộc đời của tôi đó là: Vào đầu tháng 7/1975, chúng tôi nhận lệnh đi qui tập hài cốt liệt sĩ ở khu vực Chơn Thành nơi đơn vị tham gia chiến đấu. Khi nhận lệnh đồng chí nào cũng hoang mang. Ngay cả chúng tôi là người đã trực tiếp đi chôn cất đồng đội hy sinh cũng có nhiều băn khoăn. Vì liệt sỹ vừa hy sinh được mấy tháng, gần nhất là số hy sinh tại ngầm Mã Đà vào ngày 12/4/1975, chắc chắn xương thịt còn nguyên vẹn cả thì cất bốc thế nào. Trước lo lắng của mọi người, thủ trưởng đơn vị động viên: “Tất cả vì nghĩa tình đối với đồng chí, đồng đội chúng ta phải khắc phục khó khăn…”.

Thực hiện kế hoạch, 6 giờ sáng ngày 4/7/1975, xe xuất phát từ Sài Gòn đến trưa tới Chơn Thành. Chúng tôi phân tán thành tổ 3-4 người, xin vào ở nhà dân. Ổn định nơi ăn, nghỉ, sáng hôm sau bắt tay vào việc. Đội hình được chia thành 3 bộ phận và công việc thực hiện theo thứ tự: 1- Bộ phận đầu tiên có nhiệm vụ đào đất. Khi chạm đến hài cốt Liệt sỹ thì dừng lại. Y tá đơn vị dùng cồn xử lý mùi; 2- Bộ phận thứ hai được trang bị găng tay y tế, khẩu trang trực tiếp bốc hài cốt cho vào túi ni-lon và cho vào hòm; 3- Bộ phận thứ ba đóng hòm, vận chuyển ra ô tô. Đội của tôi được phân công vào bộ phận trực tiếp bốc thi hài liệt sĩ cho vào hòm.

Địa điểm đầu tiên là khu vực chôn cất đồng đội khi Trung đoàn tiến công Chơn Thành lần thứ nhất (số liệt sỹ này tự tay chúng tôi chôn cất). Do lúc đó ta làm chủ địa bàn nên đồng đội được chôn cất chu đáo, bên trong bọc võng, bên ngoài bọc tăng và ràng buộc cẩn thận. Chúng tôi đưa nguyên từng bọc hài cốt đã khô cứng lên băng ca rồi cáng ra khỏi rừng, đóng vào hòm đưa lên xe chuyển về nghĩa trang. Sáng hôm đó, chúng tôi làm tích cực, chưa hết buổi sáng đã bốc xong mấy chục mộ. Tranh thủ thời gian chúng tôi di chuyển qua vị trí khác gần đó bốc tiếp các mộ khác.

Chân dung Cựu chiến binh Nguyễn Kiệm.

Trời tháng 7 thất thường, buổi sáng đang nắng như thiêu như đốt thì đột nhiên trời chuyển mưa. Mấy hố chôn liệt sỹ chưa kịp bốc lên đã thành những cái hố đầy nước. Mãi gần 5 giờ chiều, xe mới chở hòm từ Chơn Thành ra, chúng tôi lội xuống từng hố mò hài cốt liệt sỹ như “mò cá” rồi nhanh chóng đóng vào hòm. Trời mưa sầm sập, chúng tôi lội trong bùn đất vác từng hòm chuyển lên xe. Nước mưa, nước từ hài cốt, từ các chiếc hòm chảy xuống mặt, xuống người ướt sũng... Tất cả đều khẩn trương thực hiện nhiệm vụ. Chỉ huy đơn vị biểu dương vì công việc đã hoàn thành nhiệm vụ trước thời gian dự kiến.

Bốc hết các mộ xung quanh khu vực Chơn Thành, chúng tôi hành quân về ngầm Mã Đà để quy tập số anh em hy sinh ở đây. Từ Chơn Thành theo Đường 14 xe chở chúng tôi lên phà dã chiến vượt Sông Bé qua Đồng xoài, theo đường Trần Lệ Xuân về ngầm Mã Đà. Theo bánh xe lăn, tôi vừa đi vừa quan sát con đường vừa ôn lại những kỷ niệm khi đơn vị vào giải phóng Chơn Thành.

Lần này chúng tôi quay lại đây quy tập các liệt sỹ về nghĩa trang. Hình ảnh trận ném bom và cái chết của các đồng đội lại hiện về. Xe dừng lại bên đường chúng tôi bắt tay vào công việc… Đây rồi, hơn chục ngôi mộ nằm bên trái đường trên một khoảnh đất cao. Bộ phận đào đất nhanh chóng, đào xong lớp đất mỏng trên mộ. Các bộ hài cốt đang kỳ phân hủy lộ ra, bốc mùi nồng nặc. Đồng chí y tá mang can cồn 10 lít tưới lên thi hài liệt sỹ. Tiếp đó chúng tôi khẩn trương bắt tay vào việc.

Theo sự phân công, tôi đeo đôi găng tay y tế cùng hai ba đồng chí nữa bê thi hài liệt sỹ từ dưới hố bỏ vào hòm có bao ni-lon lót sẵn. Tiếp xúc với thi hài liệt sỹ khá nhiều nhưng lần đầu tiên khi chạm tay vào thi hài liệt sỹ đang phân hủy, cảm giác cái lạnh sắc đột nhiên chạy thẳng vào người làm tôi giật mình run rẩy.

Cứ như thế chúng tôi lần lượt bốc hết hơn chục phần mộ ở khu chôn cất tập trung. Sau đó, theo chỉ đường của đồng chí cán bộ chính sách, chúng tôi đi vào một hố bom. Ở đây có một nấm đất cao bên thành hố. Khi gạt hết phần đất phía trên thì gặp tấm ni lông. Phía dưới hiện lên bộ hài cốt liệt sỹ chỉ còn lại xương nằm ngay ngắn theo thành hố bom, đầu quay lên phía trên.

Theo lời đồng chí cán bộ chính sách: “Đồng chí này bị thương, đi lạc vào rừng, gặp hố bom xuống uống nước chưa lên khỏi miệng hố thì ngã xuống, hy sinh ở đây. Sau thời gian ngắn, đơn vị quay lại tìm, thấy hài cốt đang trong giai đoạn phân hủy nên đành để tại chỗ lấy tấm ni lông trùm lại và lấp đất lên, không đưa về vị trí tập trung”... Chúng tôi thắp hương cho liệt sỹ và nhặt toàn bộ hài cốt bọc lại, đưa về vị trí tập kết, đóng vào hòm.

Ở phía bờ bên này đã qui tập hết. Biết bờ bên kia cũng còn mấy mộ nhưng do mấy ngày trước trời mưa to, suối Mã Đà nước tràn bờ và chảy rất mạnh, không qua được, chúng tôi đành kéo quân về. Đến phà Nha Bích do nước sông chảy xiết, phà hoạt động hạn chế, chỉ ưu tiên xe chỉ huy, xe công vụ có việc gấp... nên toàn đội nghỉ lại qua đêm. Đến chiều ngày 20/7/1975, khi nước rút, phà hoạt động bình thường chúng tôi mới về lại Chơn Thành. Sau đợt này đơn vị tôi rút về lại Sài Gòn, kết thúc chuyến công tác đặc biệt.

Ông nói thêm: “Đợt công tác này ngoài đơn vị chú thì Trung đoàn cũng có nhiều bộ phận tham gia. Mỗi đơn vị được phân công mỗi hướng. Chúng tôi chỉ làm nhiệm vụ cất bốc liệt sĩ vào hòm. Việc an táng liệt sỹ tại nghĩa trang Bình Long có bộ phận khác đảm nhiệm. Câu chuyện chỉ kể lại những việc chúng tôi trực tiếp thực hiện”.

Cựu chiến binh Sư đoàn 341

Cựu chiến binh Nguyễn Kiệm (tên khai sinh là Nguyễn Văn Kiệm) sinh năm 1956, quê quán xã Kỳ Phú, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Tháng 12/1974, ông nhập ngũ và huấn luyện tại Đoàn 22B, Quân khu 4. Tháng 02/1975, ông được bổ sung vào Đại đội 25, Trung đoàn 273, Sư đoàn 341, hành quân vào Nam và chuyển về đội hình Quân đoàn 4. Ông cùng đơn vị tham gia chiến đấu giải phóng Dầu Tiếng, Chơn Thành, Xuân Lộc, Sài Gòn. Sau giải phóng, ông tiếp tục tham gia làm nhiệm vụ quân quản, chiến đấu bảo vệ Biên giới Tây Nam. Năm 1978 - 1981, ông đi học tại Trường sĩ quan Lục quân 1, sau đó được giữ lại trường làm giáo viên, Tổ trưởng bộ môn, Phó Chủ nhiệm khoa, quyền Chủ nhiệm Khoa. Năm 1991 – 2013, ông chuyển công tác về Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng và giữ các chức vụ Huyện đội phó, Huyện đội trưởng, Trưởng ban Khoa học Quân sự. Khi nghỉ hưu, ông giữ quân hàm Đại tá.

Qua câu chuyện của ông, tôi thấy bùi ngùi xúc động. Chiến tranh đã qua đi nhưng những nỗi đau đọng lại, để rồi chúng ta thấy được giá trị của hòa bình, của độc lập dân tộc. Vì lẽ đó, bằng tất cả sự trân trọng, tự hào, trong mỗi bài viết, tôi muốn gửi đến tất cả độc giả một thông điệp về giá trị của hòa bình, của độc lập và những mất mát, đau thương và ám ảnh của chiến tranh, để mỗi người biết quý trọng, gìn giữ và bảo vệ những thành quả mà cha ông ta đã phải đánh đổi bằng biết bao nhiêu xương máu. Việc tìm kiếm, cất bốc, quy tập hài cốt liệt sĩ là việc làm mang tính nhân văn cao cả, thể hiện đạo lý” uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta nhằm tri ân những người con ưu tú của quê hương đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc.

Kết thúc câu chuyện, tôi hỏi ông: “Sau đợt quy tập ấy, chú có giữ lại được di vật nào của liệt sĩ không ạ?”.

Như hiểu được ý nghĩa của công tác bảo tồn, bảo tàng, ông Kiệm liền nói: “Rất tiếc là chú không giữ được gì của liệt sĩ…, còn kỷ vật của chú, chú chỉ giữ lại được Giấy chứng minh số 750.548MĐ và Thẻ cử chi bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1976 của cuộc đời quân ngũ…”. Nói xong ông mở chiếc tủ được khóa cẩn thận và lấy ra những kỷ vật đã ngả vàng trao tặng cho Bảo tàng Quân đoàn 4.

Giấy chứng minh số 750.548MĐ của Nguyễn Kiệm.

Thẻ cử chi bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1976.

Thời gian có thể làm màu mực mờ đi, giấy ố vàng nhưng kỷ vật gắn liền với cuộc đời quân ngũ của ông thì còn mãi. Những kỷ vật của ông sau khi về Bảo tàng Quân đoàn 4 sẽ được lưu giữ và trưng bày giới thiệu tới công chúng trong nhiều cuộc triển lãm tại Bảo tàng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn