Khác

CHUYỆN CŨ

Có lẽ, phải lật ngược lại những trang sử về những thòi gian xa xưa một chút. Trong tất cả các biên niên sử của Không quân các nước trên thế giới, tôi thấy hầu như ít nhắc đến những trận không chiến về ban đêm. Chắc hẳn, vào những thời gian ấy, các loại máy bay tiêm kích chưa đủ tính năng đi đánh chặn về ban đêm nên ít có những trận chiến về đêm. Chỉ tới giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh thế giới thứ 2, sau khi loại máy bay Metxersmit-110 (Me-110) của Đức ra đời, có lắp đặt hệ thống ra

01/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Sau một thời gian cùng cơ quan Tham mưu nghiên cứu quy luật hoạt động của máy bay biệt kích địch, đồng chí Đặng Tính, Chính ủy Quân chủng, nguyên Cục trưởng Cục Không quân đã đề xuất và được Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng nhất trí chủ trương sử dụng Không quân đánh máy bay địch. Các kế hoạch tác chiến và phương pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ đã được xây dựng từng bước vững chắc.

Vậy là, kể từ đây dần dà đã có những trận chiến đấu về ban đêm để mở ra một trang sử mới cho truyền thông của Không quân nhân dân Việt Nam.

Nếu nói về đánh đêm, không chiến ban đêm thì không thể không nhắc đến trận đánh diễn ra vào đêm 15, rạng sáng ngày 16 tháng 2 năm 1964 của tổ bay với các phi công Nguyễn Văn Ba và Lê Tiến Phước bay trên loại máy bay T-28 đã bắn rơi chiếc C-123K (chiếc máy bay vận tải loại nhỏ dùng để thả biệt kích).

Chiếc máy bay khu trục T-28 mang tên “Du mục” do Mỹ chế tạo năm 1950. Khi trang bị cho lực lượng Không quân Hoàng gia Lào (vào năm 1961), nó đã được cải tiến, lắp thêm 2 khẩu trọng liên 12,7 li. Chiếc T-28 này do phi công Bun Khăm điều khiển đã bay sang phía Việt Nam đầu hàng, hạ cánh xuống sân bay Bạch Mai vào trưa ngày 16 tháng 9 năm 1963.

Quân chủng Không quân tiếp nhận chiếc máy bay này và giao cho lực lượng kỹ thuật của Quân chủng tìm hiểu tính năng và khôi phục nó để có thể sử dụng nó vào nhiệm vụ phục kích, chặn đánh các máy bay của chính quyền Việt Nam Cộng hòa thường thả biệt kích xuống khu vực rừng núi Tây Bắc của ta trong giai đoạn ấy.

Phòng kỹ thuật máy bay đã cử một số thợ giỏi trực tiếp cùng cán bộ kỹ thuật của xưởng A-33 nghiên cứu, kiểm tra và tiến hành các công tác chuẩn bị cần thiết. Đồng chí Nguyễn Tuấn, thợ cơ giới trên không, có kinh nghiệm đã cùng tổ kỹ thuật động cơ, tháo toàn bộ động cơ máy bay, kiểm tra từng chiếc xi-lanh, vòng găng, nến điện, vòi phun xăng, máy nén, đo lại các tiêu chuẩn giãn cách... Đồng chí Nguyễn Bá Phúc, tổ trưởng đặc thiết cùng các thợ giỏi của tổ điện thay nhau trườn vào khoang máy bay đánh dấu và ghi vào trí nhớ từng cuốn dây điện, vẽ sơ đồ và kiểm tra mạng điện của máy bay...

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Ký ức trời đêm« Trả lời #3 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2020, 04:13:34 pm »

Sau những ngày lao động vất vả, chiếc máy bay T-28 này đã hoạt động bình thường.

Hai phi công: Thượng úy Nguyễn Văn Ba và Trung úy Lê Tiến Phước đều là giáo viên bay trên loại máy bay Iak-18 của trường Hàng không, nhận nhiệm vụ nhanh chóng nắm vững kỹ thuật bay trên chiếc T-28 ấy.

Công tác huấn luyện chuyển loại được tiến hành rất khẩn trương, với cường độ cao: từ học lí thuyết đến thực hành các bài bay cơ bản và ứng dụng chiến đấu ban ngày xong, lại chuyển sang bay đêm ngay.

Giai đoạn đầu, hai anh được phi công Bun Khăm của Lào hướng dẫn.

Sau một thời gian bay huấn luyện, khi đã nắm vững tính năng và điều khiển thành thạo chiếc T-28 thì phát sinh những khó khăn mới. Đó là một số linh kiện và lốp của chiếc T-28 này đã hết hạn sử dụng. May sao, bấy giờ lại có một chiếc T-28 của Không quân Vương quốc Thái Lan hạ cánh ở phía Tây Quảng Bình (không rõ lí do bỏ chạy sang Việt Nam hay bay hết dầu phải hạ cánh bắt buộc) rồi bỏ ở đó.

Lực lượng kỹ thuật của Quân chủng đã vào Quảng Bình, tháo động cơ, tháo 2 cánh và chở chiếc T-28 ấy về sân bay Bạch Mai, lấy các linh kiện còn tốt để lắp cho chiếc T-28 của Không quân Hoàng gia Lào bấy giờ đã được đưa vào biên chế chiến đấu với số hiệu 963.

Tháng 1 năm 1964, chiếc T-28 mang số hiệu 963 được trang bị 2 khẩu súng 12 li 7 với 200 viên đạn đã đưa vào trực ban chiến đấu.

Lần xuất kích đầu tiên và những lần xuất kích sau đó, phi công ta có lần không phát hiện được mục tiêu, có lần phát hiện được nhưng lại không bám theo kịp, có lần tiếp cận tốt nhưng lại bắn không trúng...

Vào giai đoạn này, Quân chủng chưa được trang bị loại ra-đa dẫn đường, chỉ có ra-đa cảnh giới nên việc dẫn dắt gặp nhiều khó khăn.

Sau nhiều lần tổ chức rút kinh nghiệm giữa tổ bay cùng các thành phần chỉ huy, dẫn đường..., đã tìm ra được những vấn đề cần khắc phục trong khâu tổ chức dẫn dắt. Tất cả đã sẵn sàng cho những chuyên xuất kích tiếp theo.

Đêm 15 tháng 2 năm 1964, vào lúc 23h30 phút, khi ra-đa vòng ngoài bắt được mục tiêu, sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho tổ bay vào cấp 1.

1h07 phút sáng ngày 16 tháng 2 năm 1964, hai phi công Nguyễn Văn Ba và Lê Tiến Phước trên chiếc máy bay T-28 số hiệu 963 nhận lệnh cất cánh.

Đêm ấy là đêm trăng thượng tuần, mặt trăng trông mỏng như lá lúa, hắt ánh sáng mờ ảo lên muôn vật, nhưng thực tế, bầu trời vẫn còn tối lắm.

Tổ bay nhận thông báo từ sở chỉ huy. Phi công Lê Tiến Phước ngồi buồng lái sau tập trung giữ tốt các số liệu dẫn bay. Phi công Nguyễn Văn Ba ngồi ở buồng lái trước tập trung quan sát.

Khi đến cự li 500 mét, phi công Nguyễn Văn Ba phát hiện được hình dáng chiếc vận tải C-123K với 2 động cơ đang bay ở phía trước. Anh lập tức ấn nút lên đạn, xin vào công kích và nhanh chóng đưa chiếc T-28 vào vị trí công kích. Anh ấn cò liền hai loạt, hết 163 viên đạn, đến loạt thứ 3 thì súng bị tắc, nhưng hai anh kịp thấy chiêc C-123K đã phụt lửa, tròng trành, nghiêng về phía bên trái rồi rơi xuống rất nhanh ở khu vực gần biên giới Việt - Lào.

Sở chỉ huy lệnh cho các anh quay về sân bay Gia Lâm hạ cánh.

Sau này, một tên biệt kích bị ta bắt đã khai: toàn bộ phi hành đoàn trên máy bay C-123K của Không lực Việt Nam Cộng hòa và toán biệt kích đều tử nạn.

Đây là chiến thắng đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam, đã mưu trí, sáng tạo, sử dụng máy bay T-28 của Mỹ tiêu diệt máy bay C-123K của Mỹ làm nhiệm vụ thả biệt kích vào ban đêm, mở đầu cho những chiến thắng liên tiếp về sau này.

Gần 2 năm sau, đêm 3 tháng 2 năm 1966, phi công Lâm Văn Lích bay trên loại máy bay MiG-17 đã bắn rơi 2 chiếc AD-6 trong đêm ấy.

MiG-17 là loại máy bay tiêm kích có tốc độ xấp xỉ âm thanh đầu tiên của Không quân Xô-viết, được sản xuất để thay thế cho loại MiG-15 và đưa vào sử dụng từ tháng 10 năm 1952 nhưng nó không kịp tham chiến trong cuộc chiến tranh Triều Tiên.

MiG-17 có các phiên bản: MiG-17A, MiG-17F, MiG-17PR. Nó được trang bị 1 khẩu pháo 37 li và 2 khẩu 23 li.

MiG-17PF là loại được lắp đặt ra-đa bắt mục tiêu trên không, nhằm phục vụ cho nhiệm vụ đánh đêm. Nó cũng được lắp đặt hệ thống tăng lực, vì vậy, lực đẩy của động cơ tăng lên đáng kể, có thể cơ động và tăng tốc tốt hơn trong không chiến.

Phi công Lâm Văn Lích trực ban chiến đấu đêm mồng 3 tháng 2.

Sau khi hệ thống ra-đa phát hiện được các máy bay AD-6 của Không quân Mỹ bay vào vùng trời Hòa Bình để đánh tuyến đường 15A, đoạn Suối Rút - Quan Hóa và đường 21A, đoạn Hòa Bình - Tân Lạc, sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho Lâm Văn Lích xuất kích chiến đấu.

Chiếc MiG-17PF nhanh chóng lăn ra đường băng, bật tăng lực, xé gió lao vút vào khoảng không tĩnh mịch của một đêm mùa Đông.

Logged

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn