CHUYỆN CỦA ANH HÙNG HỒ BÉ
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Bé tên thật là Võ Văn Lý, sinh năm 1942 tại Lương Hòa Lạc, Chợ Gạo, Tiền Giang. Ông tham gia cách mạng năm 1962. Do yêu cầu công tác và bảo đảm bí mật, ông đổi tên thành Hồ Bé.
Ông từng nói mình là con cháu Bác Hồ, vì vậy không chỉ ông mà về sau các con trong gia đình cũng mang họ Hồ.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Hồ Bé nổi tiếng là người chiến đấu gan lì, mưu trí, thông minh và dũng cảm, lập nhiều chiến công khiến quân địch khiếp sợ. Ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân từ những năm đầu trong chiến khu, khoảng năm 1965.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông đảm nhiệm nhiều cương vị: đặc công huyện Chợ Gạo; công tác tại cơ quan tham mưu tỉnh Mỹ Tho; Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 269 đặc công Quân khu 8; sau này là Đại tá, Phó Tư lệnh Sư đoàn 8 thuộc Quân khu 9. Ông nghỉ hưu năm 1999.
Một dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời ông là ba lần được gặp Bác Hồ và từng được túc trực bên linh cữu của Người.
Khoảng tháng 4/1968, Hồ Bé được tham gia Đoàn Anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra Bắc báo công. Đoàn có hơn 40 người, phần lớn là thanh thiếu niên, đã lập nhiều thành tích trong kháng chiến và được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân hoặc các danh hiệu dũng sĩ.
Trong đoàn có nhiều gương mặt nổi tiếng như Tạ Thị Kiều, Kan Lịch, Kpa-Kơ-Lơng, Hồ Văn Mên...
Đoàn hành quân ròng rã khoảng sáu tháng, vượt qua đại ngàn Trường Sơn theo đường Hồ Chí Minh để ra Hà Nội.
Tại Thủ đô, đoàn được Bác Hồ tiếp, tham quan Hà Nội. Sau đó, Hồ Bé được học Trung cấp Chính trị tại Vĩnh Phúc rồi trở về miền Nam tiếp tục chiến đấu cho đến ngày toàn thắng 3/4/1975, theo lời kể được đăng trong bài báo.
Trong những lần gặp Bác, Hồ Bé nhớ nhất là Tết năm 1969, cái Tết cuối cùng trước khi Bác qua đời.
Đoàn Anh hùng, dũng sĩ miền Nam được vào thăm và chúc Tết Bác. Trong không khí thân mật của ngày đầu xuân, những chiến sĩ miền Nam tìm cách đến gần Bác, muốn được nghe rõ giọng nói, nắm tay và nhìn Người thật kỹ để sau này trở về kể lại với đồng bào, đồng đội ở miền Nam về tình cảm của Bác dành cho miền Nam.
Dù sức khỏe khi ấy đã giảm sút, Bác vẫn ân cần hỏi thăm từng thành viên, chia kẹo và quà. Với Hồ Bé, Bác hỏi về gia đình, quê hương Chợ Gạo, điều kiện sống và chiến đấu.
Bác động viên ông trong thời gian ở miền Bắc phải cố gắng học tập để sau này tiếp tục phục vụ sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Những lời căn dặn ấy trở thành nguồn động viên lớn đối với Hồ Bé. Ông ghi nhớ và lấy đó làm động lực để vượt qua những khó khăn, thử thách trong chiến tranh cũng như trong cuộc sống sau này.
Trong chiến tranh, Hồ Bé luôn thể hiện tinh thần sẵn sàng nhận nhiệm vụ, kể cả những nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm.
Ông trưởng thành từ một chiến sĩ đặc công, trải qua nhiều vị trí công tác và cuối cùng giữ cương vị Phó Tư lệnh Sư đoàn 8, Quân khu 9.
Cuộc đời quân ngũ của ông gắn với những năm tháng chiến đấu quyết liệt ở chiến trường Nam Bộ. Những phẩm chất nổi bật được nhắc đến trong câu chuyện về ông là gan dạ, mưu trí, kiên cường, chấp nhận gian khổ và đặt nhiệm vụ cách mạng lên trên lợi ích cá nhân.


