“Chuyện của lính Tây Nam” CHƯƠNG II
“Chuyện của lính Tây Nam” CHƯƠNG II
“Chuyện của lính Tây Nam” CHƯƠNG II
Mưa. Mưa thối đất thối cát.
Mùa mưa của miền Tây Nam bộ này ghê thật. Vào đây, tôi mới thấu hiểu được cái mùa mưa mà trong cuốn tiểu thuyết Mẫn và tôi được nhà văn miêu tả thật đến mức nào. Nằm giữa rừng già, chỉ có cái võng và cái tăng che đầu, một cơn gió nhẹ là mưa lại ào vào ướt hết cả. Cũng vì mưa mà cả hai ngày hôm nay tiếng súng trên chốt đỡ hẳn. Thỉnh thoảng mới có vài tiếng AK nổ tằng... tằng... tằng... như muốn báo với bọn địch rằng ta vẫn luôn cảnh giác.
- Này ông Vòng ơi! Dân Hải Hưng có cái gì nhỉ? - Tôi hỏi. Suốt từ hôm vào chiến dịch tới giờ tiểu đội chúng tôi mới có thời gian nằm kề bên nhau mà chuyện trò như thế này.
Thằng Vòng như được dịp, liền khoe:
- Nhiều lắm. Xã thằng Sơn, thằng Bình “chân Tiệp” có nhãn lồng bổ ngập dao phay, còn xã thằng Sáng, thằng Ần có táo thiện phiến ăn ngon và giòn, lại thơm nữa.
- Thế còn xã ông? - Tôi hỏi tiếp.
- Ồi, xã tôi gọi là đất làng vàng. Đất làng vàng là nói thế thôi chứ người đông đất hiếm, mà là đất phèn chua, chiêm trũng nên chỉ trồng được một vụ lúa, trồng khoai tây gối vụ. Củ nào to nhất cũng chỉ như hai hạt dái chó. Cực lắm ông ạ.
- Vậy thì xã ông nghèo nhất à?
- Ừ - Vòng trả lời.
- À, ông Vòng này, sao lại gọi thằng Bình là Bình “chân Tiệp’’? Vòng ta cười ha hả:
- Tại gần nhà nó có xưởng làm chân tay giả của Tiệp, nó nghe người ta bảo chân tay giả của Tiệp là tốt nhất cho nên ngồi đâu, nói chuyện gì, nó cũng nói đến chân giả của Tiệp. Ngoài chuyện đó ra nó chẳng biết gì hơn. Thế nên mọi người mới gọi nó là Bình “chân Tiệp”.
Cả tiểu đội mười mấy con người mà mỗi người một vẻ. Thằng Sáng thì lúc nào cũng láu ta láu táu, thằng Soạn - tiểu đội phó của tôi thì cả ngày không nói được nửa câu, vậy mà khi vào trận thì lì không ai bằng. Thằng Vòng một chữ cắn đôi không biết nhưng tục ngữ và ca dao thì Vòng thuộc không ai bằng.
Có tiếng gọi cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi:
- Ê, Tuấn tròn, Vòng! Sang tao làm điều thuốc lào.
Thì ra nghe tôi và Vòng nói chuyện với nhau, anh Long Fulro đồng hương Hà Nội với tôi chắc không ngủ được, gọi với sang.
Tôi liền trêu:
- Sang làm gì? Em biết anh định nói gì rồi! Hì hì, em biết thừa anh lại gọi
sang nghe chuyện Fulro chứ gì.
* * *
Đã mấy tháng ở với nhau cực khổ muôn phần, không thấy anh đả động gì đến cái sống, cái chết lúc nào cũng kè kè trong gang tấc, mà hễ có dịp ngồi với nhau là anh lại lôi chuyện hồi ở Tây Nguyên đánh nhau với Fulro. Con người ta kể cũng lạ, dù hiện tại có sung sướng hay cực khổ tới đâu cũng không ngại, nhưng kỷ niệm xưa thì khó mà phai nhòa được. Hình như những kỷ niệm xưa cũ ấy khiến cho con người sống có ý nghĩa hơn, mạnh mẽ hơn. Cũng như tôi bây giờ, mới ngày nào còn chưa lường hết sự ác liệt của chiến trường, nay đã trở thành một anh lính dày dạn.
Những trận chiến dai dẳng, triền miên trong mấy tháng qua nay lại tái hiện qua giây phút nghỉ ngơi này. Rất may mắn, cả tiểu đội tôi chưa có thương vong nào. Ngày nào chúng tôi cũng làm theo một chu kỳ khép kín. Ban ngày thì đào hầm, hết đào hầm phẫu thuật thì đến đào hầm sở chỉ huy rồi lại đào hầm cho thương binh nằm. Hầm chúng tôi đào thường có kích thước rộng 3m, dài 5m, sâu 1m8, trên lát gỗ để tránh pháo. Tối đến, tải đạn xuống cho các Tiểu đoàn và lấy thương binh, tử sĩ về. Nói tóm lại, chúng tôi phải lo đủ đạn dược cho toàn trung đoàn.
Một núi công việc khổng lồ tưởng như ngoài sức chịu đựng của con người, vậy mà chúng tôi vẫn luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ. Dù sao vẫn còn sướng hơn anh em bộ binh, cả ngày nằm dưới hầm chữ A, mưa ướt hết mà lúc nào cũng cận kề với cái chết.
Hồi còn ở nhà tôi đã từng đọc cuốn “Dấu chân người lính”, cái khổ cực, cái ác liệt của các anh, giờ tôi đã hiểu. Cũng có thể, nhờ cuốn tiểu thuyết này mà tôi bước chân vào đời lính nhẹ nhàng như trong tiểu thuyết vậy. Tất cả mọi cái như đã sắp sẵn cho tôi, cũng những cánh rừng già đại ngàn, cũng những cây cổ thụ cao tít tắp, dây leo chằng chịt. Đi dưới rừng già nhiều lúc tôi đã quên đi thực tại vì rừng đã cho tôi cảm giác bình yên với những giây phút thật hiếm hoi.
Sự khốc liệt là dai dẳng, liên tục và không có “điều nghiên”, không có chuẩn bị cho bất cứ trận đánh nào. Vì ở giữa lằn ranh giới biên giới, bên này là ta, bên kia là địch suốt mấy ngày không ngớt tiếng súng nên quân ta bị thương và hy sinh khá nhiều. Theo lệnh của cấp trên thì chúng tôi đưa thương binh ngay về tuyến sau, còn tử sĩ thì chúng tôi phải tập trung lại, khâm liệm đàng hoàng.
Nói là đàng hoàng, nhưng cũng chỉ quấn vải trắng cho các anh, rồi cho vào nilon. Mấy chục ca hy sinh chưa đưa về tuyến sau được. Đêm phải thay nhau gác cho các anh, sợ thú rừng đến tha mất xác. Giữa đêm rừng già, chúng tôi mắc võng nằm ngang trên xác các anh trông chừng.
Hồi đầu, dù có mệt đến mấy, tôi cũng không thể nào chợp mắt được vì chứng kiến các anh hy sinh có mấy ai lành lặn đâu. Từ những vết thương cứ
phát ra tiếng phì phì của ruột gan, tiếng xì xì như những tiếng thở dài... Chúng tôi như nghe được cái chết cuối cùng của từng tế bào trong cơ thể con người. Vậy mà cũng không có nổi một nén nhang để thắp cho các anh.
Tôi thật may mắn là được làm tiểu đội trưởng của một tiểu đội toàn người dũng cảm, đầy kinh nghiệm và cũng không kém phần nghịch ngợm cho nên cứ mỗi lần đi phối thuộc với các Tiểu đoàn là tiểu đội tôi lại lãnh trách nhiệm lên đường.
Lần này, tiểu đội tôi đi phối thuộc với Tiểu đoàn 3, hành quân tiền nhập suốt cả đêm. Tất cả phải “ngậm tăm” không được nói chuyện, xuyên rừng dưới ánh trăng lúc mờ, lúc tỏ. Tôi và Vòng đi cạnh nhau, thỉnh thoảng nhắc anh em bám sát kẻo lạc. Đi sau Vòng là tay trung đội trưởng của Đại đội 5, lúc nào cũng thấy anh ta làu bàu vì thế Vòng ta có vẻ bực lắm.
Đi được một lúc, qua một bãi trống dưới ánh trăng mờ mờ, tôi và Vòng thấy có bãi phân của con thú rừng nào đó to tròn, thấp thoáng giữa tối và sáng. Vòng ra hiệu cho tôi rồi lấy khẩu AK cọ vào cái xẻng nghe xoảng một tiếng nhỏ. Hắn ngoảnh lại phía sau tay trung đội trưởng bảo khẽ:
- Tôi rơi cái xoong, ông nhặt hộ tôi cái. Tay Trung đội trưởng tưởng thật nên chẳng để ý, cứ nhằm chỗ đen đen, tròn tròn là cúi xuống nhặt. Ngờ đâu, anh ta bốc ngay phải bãi phân trâu. Tôi và Vòng ôm bụng mà cười, mà nào dám cười to? Trong khi chúng tôi ôm bụng cười thì tay trung đội trưởng vẩy tay lung tung cho phân trâu rơi ra mà mãi không hết. Anh ta nhảy cẫng lên, thở hổn hà hổn hển vì tức quá mà không phát tiết ra được.
Vòng thấy thế, lủi ngay ra phía sau. Thật ra chúng tôi biết, mới xuất phát được một đoạn chưa có gì là nguy hiểm lắm nên vẫn có thể vui đùa được. Đi được một đoạn dài nữa, Vòng lại lẩn lên đi đằng trước, đến chỗ từ bìa rừng đi vào, tranh tối tranh sáng giữa ánh trăng và bóng cây, hắn đang đi tự nhiên khựng lại, cúi người xuống và nói nhỏ với người đằng sau:
- Có hố đằng trước.
Thế rồi hắn lấy đà nhảy ào qua. Theo quán tính, tất cả những người đi sau cứ theo hắn mà nhảy. Oái oăm thay, tay Trung đội trưởng kia lại đi cuối. Anh ta nhảy thế nào mà lại rơi phịch ngay xuống chỗ tối mới biết là bị lừa. Anh ta đau mà vẫn phải bật cười hinh hích vì biết ngay trò này chỉ có thằng Vòng bày ra. Anh cũng không còn cáu nữa, kể ra không có mấy trò này làm anh em vui hơn thì cuộc hành quân chắc mệt mỏi lắm.
Còn anh Chiến “sứt” lại khiến tôi nhớ về một lần anh đã “cứu” tôi khỏi bị thằng Xuân đuổi đánh. Chẳng là, cứ sau mỗi trận đánh, ta lại có đợt bổ xung quân. Quân từ các tỉnh vào nhiều lắm, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Bắc, thôi thì đủ mọi miền tha hồ mà nhận đồng hương, cứ ồn ào cả một góc rừng.
- Ai đồng hương Hải Hưng đây?
- Ai Thanh Hóa nào! - Thái Bình đâu?
Tôi nghe tiếng thằng Xuân, tiểu đội trưởng tiểu đội 2 tìm đồng hương:
- Đựa mô quê ở Nghệ An không hề? Kim Liên quê Bạc đây!
Vì biết đông người nhốn nháo thế này nó không thể nhìn thấy tôi nên tôi bắt giọng trêu luôn:
- Tau! Tau ợ Nghệ An nờ. Rựa mi ở Kim Liên quê Bạc ở chộ mô hề? Thằng Xuân mừng quá liến thoắng:
- Tau, tau ở ngay đầu xạ nhà Bạc. Rựa mi ở mô?
- Rứa mi còn ngái lắm! Tau ợ.. ợ.. ợ... - Tôi ngắc ngứ.
- Ợ mô? Xuân hỏi dồn.
- Tau ợ... ngay đầu chuồng hôi* nhà Bạ...c! Gần hơn nhà mi nhiều! Không ai có thể nhịn cười thêm được nữa, bật cười lên ha hả Tiếng cười của chúng tôi vang cả một góc rừng Lúc này Xuân mới biết là tôi trêu nó, nó chạy đuổi theo tôi, hét lên:
- Cại đồ đồng hương mật gộc!
Vì tôi quê ở Nghệ An, nhưng sinh ra tại Hà Nội nên nó không chịu nhận tôi là đồng hương. Thằng Xuân đuổi tôi chạy vòng vòng mãi mà không chịu tha cho tôi. Thấy thế, anh Chiến sứt “cứu nguy”:
- Chú để anh điều trị thằng mất “gộc” này. Nói rồi anh chắn ngang tôi nháy mắt, quát:
- Tuấn tròn, đằng sau quay.
Anh được gọi là Chiến “sứt” bởi một lần anh với thằng Soạn khiêng thương binh về trạm quân y, nhưng chẳng hiểu thằng Soạn đi trước mắt mũi thế nào mà lại vấp ngã làm anh cũng ngã theo. Qui tắc của lính cứu thương là bất cứ lý do gì cũng không để thương binh chạm đất do đó bị ngã nhưng theo phản xạ hai tay anh Chiến vẫn phải nâng cao đầu tăng và lẽ đương nhiên mặt anh phải chạm đất. Mặt mũi trầy xước bê bết máu mà chẳng dám kêu, còn chiếc răng cửa thì bị sứt mất một miếng. Từ đó ai cũng gọi anh là Chiến sứt.
Anh là người nhiều tuổi nhất đại đội, sinh năm 1951 mà mãi đến năm 1976 anh mới đi bộ đội. Anh kể với tôi hồi học cấp 3 ở Bắc Giang anh là học sinh giỏi có tiếng, năm 1968 anh trúng tuyển đại học được 26 điểm nhưng chỉ vì lý lịch bố anh theo cách mạng lại yêu một ca nương là mẹ anh mà anh không được nhập học. Hồi đó, bố anh theo cách mạng đang ở vùng tự do bỗng đâu trở về Bắc Giang là vùng địch tạm chiếm lấy mẹ anh rồi ở lại luôn. Không được học Đại học phải chuyển sang học trung cấp, anh chán lắm, xung phong đi bộ đội cũng không được đi mãi cho đến lúc lấy vợ có con gái hai tuổi người ta mới gọi anh nhập ngũ...
Tiểu đội tôi, mỗi người một vẻ nhưng cứ sống với nhau thật hồn nhiên như vậy.



