Chuyện của những người lính An ninh từng tham gia chi viện Chiến trường miền Nam (phần 2)
Đến bây giờ những kỷ niệm về chiến tranh, bom đạn và tình đồng đội… trong ký ức của những người lính An ninh từng tham gia chiến đấu tại chiến trường miền Nam vẫn còn vẹn nguyên.
Gần 50 năm trôi qua nhưng khi trò chuyện với chúng tôi về những năm tháng ác liệt nơi chiến trường, ông Trần Xuân Châu (SN 1948), trú tại phường Hồng Sơn, TP Vinh (Nghệ An) vẫn nhớ như in những ký ức hào hùng của một thời hoa lửa. Vào một ngày cuối năm 1971, khi đang công tác tại Công an huyện Nam Đàn, ông (lúc ấy là Thượng sỹ) được thông báo có quyết định của Bộ Công an cử đi chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong hành trang lên đường, ra trận, bên cạnh balo quần áo và một số đồ vật cần thiết thì lời dặn dò của người cha “Bây giờ Đảng cần, Ngành cần thì con phải ra đi.Dù hy sinh, gian khổ cũng phải quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.Khi nào giải phóng miền Nam thì con về với gia đình…” luôn là động lực, kim chỉ nam cho ông trong những ngày chiến đấu khốc liệt tại chiến trường.
Hơn một tháng ròng hành quân khó khăn, vất vả qua những địa bàn “rừng thiêng, nước độc”, ông cùng đồng đội đến được địa điểm tập kết vùng A Sầu, A Lưới thuộc miền Tây Thừa Thiên - Huế. Sau khi thất thủ ở Quảng Trị, Mỹ tăng cường đưa thủy quân lục chiến xây dựng tuyến phòng thủ hàng rào điện tử, lập các ấp chiến lược, tăng cường càn quét, khủng bố dã man, nhất là các cơ sở cách mạng của ta. Ông cùng đồng đội được cấp trên giao nhiệm vụ xây dựng hậu cứ, nắm tình hình hoạt động của địch, các hoạt động của ngụy quyền và bọn phản động, đồng thời gây dựng mạng lưới bí mật hoạt động trong lòng dân.
Ngày 27/1/1973, Việt Nam và Mỹ ký kết Hiệp định Paris và phân vùng ranh giới cắm cờ giữa ta và địch.Cùng với những thành công từ các chiến dịch trên toàn chiến trường miền Nam nên tại Hội nghị Paris (Pháp) đã có nhiều diễn biến có lợi cho ta. Yêu cầu của ta lúc đó là phải nhanh chóng cắm được cờ giải phóng tại các vùng địch hậu, tạm chiếm và cả vùng địch đang tạm chiếm để “Ban liên lạc quân sự bốn bên” theo thỏa thuận tại Hội nghị Paris tổ chức kiểm soát.
Tuy nhiên, mục tiêu này cũng được địch đặt ra và chúng đã tăng cường cho thám báo, biệt kích và lực lượng mạnh tấn công đánh chiếm để cắm cờ ngụy quyền tại các vùng ta đã làm chủ trước đó. Cuộc chiến giành giật địa bàn vì thế làm cho trách nhiệm của Ban An ninh tỉnh Thừa Thiên - Huế hết sức nặng nề. Việc chủ động nắm được tình hình, âm mưu, ý đồ của địch trở thành một yêu cầu hàng đầu và cao nhất khi đó.
Để thực hiện nhiệm vụ, ông cùng đồng đội được phân công xuống các địa bàn như Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, Hương Trà, Hương Thủy…(tỉnh Thừa Thiên - Huế). Ông và đồng chí Ước (người Hà Nam) được phân công về huyện Phú Lộc. Nhiệm vụ chính là điều tra cơ bản về chính trị, cài cắm, xây dựng mạng lưới cơ sở bí mật cho cách mạng để kịp thời nắm tình hình của địch, đặc biệt là những kẻ ác ôn, gián điệp, nội gián… để báo cáo Ban An ninh Thừa Thiên - Huế. Trong quá trình công tác, ông cùng đồng đội đã trải qua nhiều gian khổ, nguy hiểm. Quân địch tổ chức càn quét, vây chặn và cài mìn ở khắp nơi, có lúc tưởng đã cận kề cái chết.
Đôi mắt của vị Đại tá từng lăn lộn tại chiến trường miền Nam, từng đối diện với nguy hiểm, thậm chí là đối diện với cái chết bất cứ lúc nào bỗng chùng xuống: “Vào khoảng 3 giờ sáng một ngày đầu tháng 2/1973, tôi cùng đồng chí Ước được tổ chức phân công cắm cờ phân giới đất giữa ta và địch ở xã Diên Lộc, huyện Phú Lộc. Tuy nhiên, khi tôi và anh Ước đang trèo lên cây để cắm cờ thì không biết đạn từ đâu bắn như mưa nên hai anh em phải chạy vào ngôi chùa gần đó để ẩn nấp. Đang chạy lúi húi phía sau, tôi bỗng nghe tiếng nổ rất mạnh (loại mìn lá của địch cài), ngẩng đầu lên thì thấy anh Ước đã ngã xuống và hy sinh. Tôi chỉ kịp cõng anh vào chỗ hầm đá bí mật, lấy toàn bộ tài liệu, chào vĩnh biệt rồi chạy về cơ sở để thông báo...”.
Sau đó, tháng 9/1974, ông được cấp trên cử đi học lớp Điệp báo ở Vĩnh Phú.Tình hình chiến sự có sự xoay chuyển, cuối năm đó, ông được Ban An ninh Thừa Thiên - Huế lệnh trở về Huế để tham gia giải phóng. Ngày 26/3/1975, tỉnh Thừa Thiên - Huế được giải phóng, cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới trên những nóc nhà của người dân nơi đây. Sau 30/4/1975, ông được Ban An ninh tỉnh Thừa Thiên - Huế phân công về làm Phó trưởng Công an phường Phú Hiệp, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự sau giải phóng. Đến tháng 7/1977, ông trở về Công an Nghệ An công tác trên các cương vị khác nhau cho đến khi nghỉ hưu.



