“Chuyện đời” bi tráng của chàng trai giỏi văn nhất miền Bắc một thời
“Chuyện đời” bi tráng của chàng trai giỏi văn nhất miền Bắc một thời
Nguyễn Văn Thạc sinh năm 1952 tại làng Bưởi, Hà Nội trong một gia đình thợ thủ công. Cha mẹ cậu có xưởng dệt nhỏ, nhưng khi Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, đã phải bán rẻ để sơ tán về quê tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm. Không có việc làm, nhà lại đông con (Thạc là con thứ 10 trong 14 anh em), tài sản gia đình nhanh chóng khánh kiệt. Bà mẹ Thạc phải đi cắt cỏ bán lấy tiền ăn.
Nhà nghèo, nên Thạc vừa đi học, vừa phải đi làm thêm giúp đỡ bố mẹ, nhưng học rất giỏi. Suốt 10 năm học phổ thông, cậu đều đạt loại học sinh A1 (giỏi toàn diện). Năm lớp 7, Thạc đoạt giải Nhì (không có giải Nhất) học sinh giỏi văn thành phố Hà Nội. Năm lớp 10, (niên học 1969 - 1970), Nguyễn Văn Thạc đã đoạt giải Nhất cuộc thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc. Với thành tích học tập kể trên, Thạc đã được Ban Tuyển sinh Hà Nội xếp vào diện đi đào tạo tại Liên Xô. Nhưng theo chủ trương chung, phần lớn những nam học sinh xuất sắc năm đó đều phải ở lại để tham gia quân đội.
Trong khi chờ gọi nhập ngũ, Thạc đã xin thi và đỗ vào Khoa Toán – Cơ của Trường đại học Tổng hợp Hà Nội. Vừa học năm thứ nhất, anh vừa tự học thêm để hoàn thành chương trình năm thứ 2 và được nhà trường đồng ý cho lên học thẳng năm thứ ba... Nhưng đó cũng là thời gian cuộc kháng chiến chống Mỹ đang bước vào giai đoạn mới. Chiến trường miền Nam ngày càng gay go và ác liệt. Hàng ngàn sinh viên các trường đại học phải tạm ngừng học tập, để bổ sung lực lượng chiến đấu cho quân đội. Nguyễn Văn Thạc đã nhập ngũ ngày 6/9/1971.
“30/4/1975, T sẽ trả lời cho P câu: Hạnh phúc là gì?”
Trong số 300 sinh viên của Trường Tổng hợp Hà Nội cùng nhập ngũ một đợt với Thạc có Hoàng Nhuận Cầm (là nhà thơ hiện nay). Sau này, trong nhật ký của mình, nhiều đoạn Nguyễn Văn Thạc có ghi chép và nhắc đến tác giả của Xúc xắc mùa thu, với một tình cảm đặc biệt.
Là người giỏi văn, nên Thạc viết thư rất hay. Anh cũng là người viết rất nhiều thư. Chỉ riêng một người bạn gái thân thiết, trong 4 tháng anh viết cho cô tới... 500 trang thư, có thư dày tới... 54 trang! Đọc thư của Nguyễn Văn Thạc, ta không chỉ cảm nhận và khám phá được nhiều điều thú vị về cuộc sống và xã hội miền Bắc nước ta những năm 1966 – 1972; mà còn hiểu được đời sống, tâm tư, tình cảm của thế hệ thanh niên - chiến sĩ thời đó. Hình như anh viết thư không chỉ là thông tin tình cảm riêng cho bố mẹ, cho anh trai, hay cho bạn bè... mà còn ấp ủ những tư tưởng và mơ ước lớn hơn nhiều. “Em muốn những trang thư là những dòng suy nghĩ về đời, về người, về cuộc sống, về những chân lý mà bất kỳ ai sống có trách nhiệm cũng phải suy nghĩ đến...” – Trong một lá thư gửi anh trai của mình, Thạc đã viết như thế.
Đặc biệt, trong một số lá thư gửi người bạn gái thân thiết, Nguyễn Văn Thạc không chỉ một lần nhắc đến ngày 30/4/1975. Anh có khả năng dự báo kỳ lạ: “Bất kỳ một sự vinh quang nào cũng cần phải trả bằng một giá. Và khó khăn gian khổ càng nhiều và thử thách càng nhiều, sự vinh quang đó càng trở nên rực rỡ. Chúng ta đừng đi tìm những chân lý sâu xa đơn thuần qua những áng văn và những bài thơ, bài toán. 30/4/1975, T sẽ trả lời cho P câu: Hạnh phúc là gì?”... Thậm chí, trong một lá thư đề ngày 4/9/1971, Thạc còn “đính chính”: “Như Anh nhớ nhầm rồi Lan (tức Thạc – mật danh quy ước giữa hai người - ĐVH) bảo ngày 30/4/1975 mới trả lời câu “Hạnh phúc là gì” cơ mà, chứ có phải ngày 11/4/1975 đâu?”.
Bây giờ, thì hầu hết người dân Việt Nam và nhiều người khác trên thế giới mỗi khi nhắc đến ngày 30/4/1975 đều hiểu đó là ngày gì! Nhưng xin quý độc giả nhớ cho: Nguyễn Văn Thạc viết lá thư này từ tháng 9/1971, nghĩa là gần 4 năm sau mới tới ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975... Nhờ đâu mà anh có được lời hẹn với người bạn gái của mình chính xác như vậy? Đó là sự tiên cảm kỳ diệu chăng?
Nhật ký “Chuyện đời”
Ngày 2/10/1971, tức là 28 ngày sau khi nhập ngũ, Nguyễn Văn Thạc đã ghi những dòng nhật ký đầu tiên. Cho đến cuối tháng 5/1972, sau gần 7 tháng trời, vừa huấn luyện, vừa hành quân vào mặt trận; mặc dù phải đi xa, đeo nặng, nhưng tranh thủ những giờ nghỉ, ngày nghỉ, thức khuya, dậy sớm... anh đã viết được 240 trang sổ tay.
Nguyễn Văn Thạc đã ghi chép rất kỹ những điều mắt thấy, tai nghe và cả những điều anh cảm nhận được. Đó là chuyện về gia đình những người dân nơi các anh đóng quân, chuyện về những anh lính cùng đơn vị, về những cán bộ chỉ huy tiểu đội, trung đội, trung đoàn... Có rất nhiều chuyện vui, nhưng cũng có cả những chuyện buồn.
Về tác giả của Xúc xắc mùa thu nổi tiếng sau này, ngay từ hồi đó, Nguyễn Văn Thạc đã có những nhận xét thú vị, dự báo về một nhà thơ tài hoa trong tương lai: “Cầm (tức Hoàng Nhuận Cầm - ĐVH) viết được nhiều, quả thực ở nó có tài năng, hay ít ra, đó cũng là một khả năng tốt. Khanh bảo Cầm nó chăm lắm, mặc dù sức khỏe yếu. Mình nhớ dạo mới đi bộ đội, hay gặp Cầm lang thang trong đêm. Có lần đi gác, Cầm nó nằm ngủ ngay trên cái cầu ximăng bắc qua sông Tô Lịch. Nó bảo nó nằm nhớ lại dĩ vãng xa xưa của nó ở Kinh đô, đôi guốc mộc và cái quần chùng, hàn huyên với các sư huynh bên quán nước.Kể cũng lạ, ở nó có gì đáng học đâu, ngoài những ý sáng tạo trong thơ. Cách sống của nó hơi ngang tàng và thiếu nghiêm túc. Nhưng vì sao nó nắm bắt mạch thơ đúng thế. Tưởng như lời nào của nó cũng là thơ (!)...
Đan xen với những nhận xét về người và việc, là rất nhiều đoạn tự sự. Đó là những trang viết mà Nguyễn Văn Thạc tự nhận xét và đánh giá chính bản thân mình. Có những đoạn anh tự phê bình gay gắt: Không nên yếu đuối, không được chùn bước, hãy cố gắng lên, nhất định sẽ vượt qua.
Âm hưởng chung của tập nhật ký là tinh thần lạc quan, sẵn sàng ra trận, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc của một thanh niên trí thức Hà Nội. Nhưng không thể không nhắc đến điều này: Nếu ta đặt cương vị mình vào Nguyễn Văn Thạc – một thủ khoa của cuộc thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc, mới thấy sức ép tâm lý luôn đè nặng và ghê gớm tới mức nào! Không chỉ một lần anh lo lắng tự hỏi: “Liệu mình có thể làm được gì, đóng góp được gì cho Văn học chống Mỹ hay không? Biết bắt đầu từ đâu và đi theo con đường nào? Làm sao có được một bàn tay dẫn dắt của người đi trước?”. Cũng bởi suy nghĩ nhiều, thức đêm để viết và ít ngủ đã khiến cho mái tóc của chàng trai chưa đầy 20 tuổi sớm ngả màu, với rất nhiều sợi bạc.
Có thể nói không quá rằng: Thần tượng của Nguyễn Văn Thạc trước khi ra trận chính là nhà thơ trẻ Phạm Tiến Duật trên tuyến đường Trường Sơn. Thạc luôn mơ ước mình cũng sẽ làm được như thế và hơn thế! --PageBreak--


