Cựu chiến binh

CHUYỆN ĐỜI LÍNH - LƯƠNG KIM SÁU THÔN CHIẾNG 3 XÃ VÕ LAO

Lào Cai26/12/2025PHÙNG THỪA PHÚ (Xã Võ Lao)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi tên là Lương Kim Sáu, sinh ra và lớn lên ở xã Võ Lao, tỉnh Lào Cai. Quê tôi ngày ấy quanh năm chỉ biết nương rẫy, sắn ăn độn cơm. từ nhỏ tôi gầy gò, da bọc xương, quanh năm chạy lon ton trong bếp tìm cái ăn nên bà con hay gọi tôi là Sáu mèo – cái tên nghe vừa thương vừa tủi. Nhưng chính cái đói, cái nghèo ấy lại rèn cho tôi sự chịu đựng và ý chí không chịu khuất phục. Những năm tôi lớn lên, chiến tranh vẫn còn đó. Bom đạn ở đâu xa nhưng hậu quả thì đè nặng lên từng mái nhà, từng thửa ruộng. Nhìn cảnh làng xóm xơ xác, thanh niên lần lượt lên đường, trong lòng tôi nung nấu cũng muốn đi lắm rồi. Năm tròn 18 tuổi, tôi tự tay viết đơn xin nhập ngũ, không đợi gọi vì tôi đi theo cảm tính, không phải bị ép buộc. Tháng 4 năm 1968, tôi rời quê nhà với hành trang là bộ quần áo nâu, chiếc ba lô vải .

Chúng tôi được đưa đi huấn luyện ở huyện Bắc Thái, tỉnh Thái Nguyên. Những ngày đầu huấn luyệnlà thử thách lớn đối với người có thể hình hạn chế như tôi. Chạy rừng, vượt suối, đào công sự, tập bắn, tập đánh gần… ngày nào cũng súng với bùn đất. Có đêm rét cắt da, cả trung đội co ro trong lán tranh, vậy mà sáng ra vẫn phải dậy sớm hành quân. Nhưng càng gian khổ, anh em càng gắn bó. Từ những người xa lạ, chúng tôi coi nhau như ruột thịt. Sau mấy tháng huấn luyện, tháng 9 năm 1968, đơn vị tôi nhận lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam. Chúng tôi là lính bộ binh thuộc Sư đoàn 316, Quân khu 2. Cuộc hành quân kéo dài hai tuần lễ, đi bộ là chính, men theo rừng sâu, núi cao, vừa đi vừa trinh sát, dò mìn, tính toán từng bước. Có những đoạn rừng rậm đến mức ban ngày cũng tối như chạng vạng, muỗi vắt bám đầy người, máu chảy mà không kịp gỡ. Chúng tôi theo sau các tổ trinh sát, tiến vào Nam Lào – Quảng Trị, rồi đóng quân ở Khe Sanh, đường 9 Nam Lào. Vùng này là điểm nóng, địch kiểm soát gắt gao, ngày đêm pháo kích, máy bay trinh sát quần thảo liên tục. Đất đá ở đây bị bom cày xới đến chai cứng, cây cối trơ trụi. Việc đầu tiên của chúng tôi là đào hầm, đào giao thông hào, chuẩn bị cho những trận đánh dài ngày.

Tháng 12 năm 1969, đơn vị tôi nhận lệnh đánh trận đầu tiên tại đồi Khe Sanh. Đêm mùng 8 tháng 12, chúng tôi bí mật áp sát mục tiêu, bắt đầu bao vây từ 9 giờ tối. Ai nấy đều nín thở chờ lệnh. Đúng 12 giờ 30, hiệu lệnh nổ súng vang lên. Cả quả đồi rung chuyển bởi tiếng súng bộ binh của ta dồn dập. Tôi bắn từng viên đạn mà tay run lên không phải vì sợ, mà vì lần đầu tiên bước vào trận sinh tử. Chỉ 10 phút sau, địch phản kích bằng một trận mưa pháo khủng khiếp. Pháo Mỹ gào rú trên đầu,. Chúng xả pháo không tiếc đạn, dường như đã xác định không còn đường lui. Nhưng chúng tôi đã lường trước, mỗi người đều có hầm trú ẩn kiên cố. Tôi nằm ép sát đất, đất đá đổ ập xuống, tai ù đi, tim đập dồn dập. Có đồng chí ngay bên cạnh vừa nói chuyện đó, giây sau đã im bặt. Đến rạng sáng hôm sau, trận đánh kết thúc. Đơn vị tôi hy sinh 6 người, nhiều đồng chí bị thương. Theo quy định của quân khu, sau mỗi trận đánh sẽ có lực lượng sang chôn cất đồng đội, còn chúng tôi phải rút về căn cứ để củng cố quân số và chăm sóc thương binh. Trận đó, cả hai bên đều cạn vũ khí, chưa phân thắng bại. Nhưng với chúng tôi, sự mất mát ấy in sâu vào tim, không bao giờ quên. Ngày hôm sau, quân Mỹ có trực thăng tiếp tế đạn dược, còn chúng tôi tiếp tế bằng đường bộ, nên mọi thứ đều chậm và gian nan. Trong thời gian chờ đạn, đơn vị tôi liên tục khảo sát địa hình, phối hợp với trinh sát, đưa ra các phương án đánh tiếp. Địa hình Khe Sanh hiểm trở, hầm hào của địch chằng chịt, mỗi bước tiến đều phải đổi bằng máu. Trong lúc chờ lệnh đánh tiếp Khe Sanh, tôi được điều động cùng 30 chiến sĩ sang hỗ trợ quân giải phóng Lào, tham gia chiến đấu tại tỉnh Pa Na Khét. Những ngày hành quân bên đất bạn, rừng núi hoang vu, nhưng tinh thần đoàn kết Việt – Lào rất cao. Hầu hết nơi chúng tôi đến, quân địch đã rút lui, chỉ còn lại dấu vết của chiến tranh. Nhiệm vụ hoàn thành, chúng tôi trở về đơn vị đủ quân số, đó là điều hiếm hoi khiến anh em nhẹ lòng. Năm 1972, đơn vị tôi trở lại chiến trường Khe Sanh. Lần này, tình hình ác liệt hơn nhiều. Quân địch không hề nản chí. Nhờ trinh sát của ta, chúng tôi nắm được tin quan trọng: quân Mỹ đang đào hệ thống đường hầm để phòng khi thất bại sẽ rút chạy. Đây là thời cơ quyết định. Đêm 8 tháng 7 năm 1972, chúng tôi nhận lệnh đánh thẳng vào trận địa, phá sập hầm ngầm của địch. Trận đánh diễn ra trong đêm tối mịt mùng. Tôi vừa bắn vừa bò, mùi khói súng trộn với mùi đất ẩm. Khi hầm địch bị đánh sập, 20 lính Mỹ còn lại bị chết và bị chôn sống trong hầm. Nhưng chiến thắng ấy cũng phải trả giá đắt. Trong lúc tôi đang bắn yểm trợ, một loạt pháo rơi trúng đội hình. Tôi kịp nhảy xuống một hố sâu, nên thoát chết, nhưng bị thương nặng. Bốn đồng chí đi cùng tôi đã hy sinh tại chỗ. Tôi được đồng đội cáng ra khỏi trận địa trong tình trạng mê man, rồi chuyển về bệnh viện Quân khu. Sau 4 tháng điều trị, tôi được đưa về Quân khu Việt Bắc dưỡng thương, học tập và huấn luyện. Trong thời gian đó, tôi được phong cấp bậc Thượng sĩ, giữ chức Trung đội trưởng, và được trao 2 Huân chương Giải phóng hạng Ba – phần thưởng cho những năm tháng không tiếc máu xương.

Năm 1981, tôi xuất ngũ, trở về quê hương Võ Lao. Quê nhà vẫn nghèo, nhưng đất nước đã yên tiếng súng. Tôi được hưởng chế độ thương binh, sống giản dị giữa làng quê. Mỗi khi nhớ lại những năm tháng ấy, tôi vẫn thấy như mới hôm qua. Những đồng đội đã ngã xuống mãi mãi ở lại rừng sâu, còn tôi may mắn được trở về, sống thay phần đời của họ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CHUYỆN ĐỜI LÍNH - LƯƠNG KIM SÁU THÔN CHIẾNG 3 XÃ VÕ LAO | Câu chuyện thời hoa lửa