Bài viết

CHUYẾN HÀNG ĐẶC BIỆT

Dù đã 52 năm sau ngày ngừng bắn trên lãnh thổ Lào (22/02/1973) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nhưng tôi không thể quên được chuyến đi chuyển hàng đặc biệt ấy.

Lào Cai10/01/2026Nguyễn Xuân Mẫn (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau một ngày mệt mỏi gùi hàng đi gần 50 cây số, tôi vào hầm định nằm nghỉ. Lúc ấy mới chừng tám giờ tối, tôi đinh ninh ngày mai tiểu đoàn sẽ giao cho đi lấy đạn cối 81 ly thu được của địch dưới chân đồi Phu Thoong. Nếu thế thì tốt quá, lâu lắm cả đơn vị không có gì cải thiện bữa ăn nên tôi sẽ tranh thủ đưa bộ đội xuống sông Nậm Ngừm ném vài quả lựu đạn kiếm mấy con cá tươi. Đang thiu thiu ngủ, tôi chợt nghe tiếng chiến sỹ liên lạc tiểu đoàn ngoài cửa hầm: - Báo cáo tiểu đội trưởng, chính trị viên mời đồng chí lên nhận nhiệm vụ đột xuất!

Tôi vừa đến hầm chỉ huy, thấy đồng chí Hùynh Văn Cung, chính trị viên tiểu đoàn đang điện thoại đi đâu đó bằng mật khẩu, có vẻ như lên trên trung đoàn: “Đã đánh gianh xong, đủ cho cả ba gian hai chái, chỉ còn nhờ lợp nhà!...”

Đặt ống nghe vào máy điện thoại, ông quay ra cười: - Chắc vừa về mệt lắm hả! Với tay lấy chiếc thùng lương khô được dán kín giấy trên nắp đang đặt ở góc hầm, giọng chính trị viên trịnh trọng: “Bây giờ ngoài việc năm người gùi hàng theo yêu cầu của ban hậu cần, tôi giao thùng hàng đặc biệt này cho đồng chí trực tiếp gùi vào Phu Đúc cho chính trị viên tiểu đoàn Soong Sỉ của Pha thét Lào, chậm nhất vào một giờ sáng ngày 22 tháng 2, trước khi ngừng bắn mười hai giờ! Hàng chỉ chừng mươi cân nhưng nhiệm vụ nặng nề không thể cân đong được!

Tôi nhẩm tính, hôm nay là 19 tháng 2, như vậy chỉ còn ba ngày nữa nhưng tính theo giờ thì 64 giờ, sẽ ngừng bắn trên toàn lãnh thổ Lào sau khi ký kết hiệp định ở Viêng Chăn. Có thể đây là chuyến đi cuối cùng của chúng tôi trong chiến tranh. Hơn hai năm đội bom hứng đạn trên đất Cánh Đồng Chum nhưng tôi chưa hề bị thương là may mắn lắm. Thế nhưng còn chừng đó thời gian nữa, chuyện gì sẽ xảy ra... Mấy ngày nay, bọn địch liên tục ném bom trên khắp Cánh đồng Chum vừa được giải phóng. Ngày nào chúng tôi cũng bị hứng bom, nếu không bị máy bay B52 hay F111 cắt bom rải thảm thì cũng bị bọn F4H hoặc AD6 ném bom oanh tạc các điểm chúng nghi ngờ có bộ đội ta. Ba giờ chiều hôm kia, trên đường đi gùi hàng, chúng tôi bị máy bay B52 rải bom trúng đội hình. Đến tám giờ tối, sau năm tiếng đồng hồ, B52 lại trút bom trúng nơi chúng tôi trú quân. Riêng ngày hôm nay, trên đường gùi hàng từ kho trung đoàn về qua đồi thông chừng mười lăm phút thì máy bay AD6 đánh phá ở đó vì nghi có bộ đội ta.

Vào Phu Đúc có hai đường. Một là đi xuống phía Bản Khổng rồi ngoặt lên. Nếu không bị máy bay ném bom khốc liệt thì sẽ là con đường an toàn vì thuộc vùng giải phóng, được các đơn vị Pha thét Lào và quân tình nguyện Việt Nam đang chốt giữ. Tuy nhiên phải mất gần bốn ngày, không đủ thời hạn trên giao. Nếu đi theo đường gần nhất thì chỉ hai ngày nhưng con đường ấy phải qua vùng địch đang chiếm giữ. Sau khi hội ý với tiểu đội phó Nguyễn Xuân Lý, người xã Triệu Đề, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú, chúng tôi quyết định cứ luồn rừng song song với đường mòn, để đề phòng bị mìn gài hoặc gặp chúng lùng sục. Khi nào gần tới chốt địch thì vòng ra xa.

Vượt qua sông Nậm Ngừm lúc năm giờ sáng, anh em chúng tôi bí mật xuyên rừng, vừa đi vừa xóa dấu vết. Thỉnh thoảng tôi lại giở bản đồ ra, đặt địa bàn và đối chiếu với thực địa để xác định tọa độ vì sợ bị chệch hướng. Qua sông chừng hai giờ, phía trước vọng đến tiếng súng tiểu liên cực nhanh rèn rẹt từng tràng, tiếng phóng lựu M79 cắc đoành, và tiếng lựu đạn nổ ùng oàng. Những tiếng nổ va vào núi rừng, lan đi trở thành điệp khúc chói tai. Ngoài tôi và tiểu đội phó Lý, còn lại bốn chiến sĩ kia vào chiến trường mới hơn một tháng, chưa hề nghe tiếng súng bộ binh địch. Anh nào cũng hăng hái súng lăm lăm chĩa về phía trước, lên đạn, bật chốt an toàn. Tôi tủm tỉm cười: Nghe thế thôi chứ chúng còn cách mình cả cây số. Vả lại đường mòn chúng đi lùng sục nằm gần khe dưới kia, mình đang đi trên sườn núi, cao hơn đường mòn nên chẳng sợ gì. Dẫu trấn an tinh thần cho chiến sĩ nhưng trong đầu óc tôi cũng lung bung lắm...

...Hơn hai năm ở chiến trường, dù nhiều lần bị bom ném trúng đội hình, nhiều lần gặp địch thường xuyên đi theo đường mòn bị địch gài mìn, lựu đạn, nhưng tôi vẫn lành lặn và rồi ngày về nước chắc chắn sẽ đến gần. Tôi nhớ tới quê hương Lao Cai, nơi bố mẹ và các em đang ngày đêm chờ đón tôi về.

Đến năm giờ chiều, đúng bẩy lần gặp bọn phỉ Vàng Pao đi lùng sục nhưng chúng tôi đều tránh xa đường mòn, luồn sâu vào rừng, nên không bị chúng phát hiện.

Bảy giờ tối rừng già đen thẫm lại, không nhìn thấy gì. Tôi cho anh em dừng lại nghỉ ăn lương khô, và chờ trăng lên để đi tiếp vì hôm nay mới mười tám tháng giêng âm lịch. Trên mấy điểm cao của địch, thỉnh thoảng lại có pháo sáng bắn lên, soi sáng cả không gian. Trên trời, động cơ chiếc máy bay C130 kêu ì ì, nặng nề như xay lúa, thỉnh thoảng nó lại vãi một loạt đạn hai mươi ly xuống quanh chân chốt địch. Chờ gần hai tiếng đồng hồ sau, trời càng tối như bưng, tôi chợt nhận ra đang ở dưới tán rừng già dày đặc cây cao, lại bị sương mù bao phủ nên ánh trăng không lọt xuống được. Tôi cho anh em lấy cành củi mục có ánh lân tinh cài lên ba lô để người sau nhìn theo mà đi. Chiếc đèn pin trong tay tôi được che chỉ để lọt ra quầng sáng chừng vành nón. Trên cao trời tối đen, dưới mặt đất, những cây giang quấn vào nhau chằng chịt, lúc phải leo lên giàn cây lùng nhùng, khi lại phải rạp người bònên càng đi càng khó khăn. Chúng tôi thật sự lúng túng vì không biết bao giờ thoát khỏi rừng dây bùng nhùng này. Nghe tiếng đề pa của khẩu cối tám mốt ly ở chốt địch, phán đoán phải cách chúng bốn, năm cây số, nên tôi quyết định cho tiểu đội nghỉ lại chờ trời sáng.

Mới cuối tháng giêng âm lịch, khí hậu Cánh Đồng Chum vẫn rét, nên tôi và tiểu đội phó Lý bầy cho anh em cách vun lá khô nhét vào vỏ chăn đắp cho ấm. Cậu Trung quê xứ Thanh vốn không thích nằm cùng với tôi vì bảo anh gầy như cá mắm, chẳng có tý hơi ấm nào, nhưng không hiểu sao, tối nay hắn ta lại xung phong ngay từ khi tôi cho anh em ngủ lại. Cậu Thái, người Thanh Sơn, Vĩnh Phú cười nói nhỏ: Bi đông nước của nó hết lúc chiều rồi, nó biết anh còn nhiều nước nên gạ ngủ chung. Tôi cười: Nằm giữa rừng giang mà kêu khát thì các cậu không phải người ở rừng! Tôi bầy cách cho anh em lấy sống dao gõ nhẹ vào ống giang nào không kêu thì ống đó có nước. Một tay nắm chắc lấy ống giang, tay kia lấy mũi dao găm khoét thì không phát ra tiếng động rồi hứng miệng bi đông vào. Nửa đêm, tôi dậy gác thay cho tiểu đội phó Lý thì Trung cũng thức đứng gác cạnh tôi, cậu ta bảo chẳng hiểu sao em không ngủ được. Không nói ra nhưng tôi biết Trung cũng đang nghĩ tới quê nhà như tôi...

Hành quân ngày thứ hai cũng phải bốn lần gặp địch đi càn theo đường mòn. Nói là gặp nhưng thực ra chúng tôi đều cách địch có khi tới trăm mét. Một giờ chiều, leo qua dông núi gần cao điểm 1.423, có chiếc máy bay vận tải cánh bằng lượn ba vòng, mỗi vòng thả xuống chiếc dù hàng màu xanh. Cậu Liêm thì thầm với tôi: Giá mà quân đội ta cũng có máy bay thả dù hàng chắc anh em mình không vất vả.

Trời vừa tối, tiểu đội tôi tới khe cạn mà cách đây mấy tháng, tôi vẫn đi nên biết chỉ cần hai tiếng đồng hồ leo hết khe, sang dông đồi bên kia là tới chỗ đơn vị bạn đóng quân. Tiểu đội phó Lý đi đầu phát hiện phía trước có tiếng động. Tôi lệnh cho anh em tản ra sẵn sàng chiến đấu. Tiếng bước chân lạo xạo trên lá khô, củi mục gần hơn. Một ánh đèn pin nhỏ chiếu lên trên chòm lá. Tôi phán đoán không phải địch đi lùng sục vì có cho vàng chúng cũng chẳng dám đi đêm, mà có lùng sục, chúng phải bắn như vãi đạn. Tôi nghi ngờ có lẽ gặp thám báo, bọn này thường sợ lộ nên đi rất bí mật, bí lắm chúng mới nổ súng. Tiếng động lại gần, chúng tôi phải nằm im tuyệt đối giữ bí mật, chờ cho chúng đi khỏi rồi đi tiếp. Chợt nghe có tiếng người nói tiếng Việt, tôi trấn tĩnh nghĩ có thể người của mình. Ngón tay trỏ vẫn đặt vào cò súng, tôi cất tiếng hỏi nhỏ bằng mật khẩu: Nậm Ngừm! Phía bên kia đáp lại: Nhiều cá! Tôi mừng rỡ bước khỏi gốc cây và nhận ra tiểu đội trưởng Chính ở đại đội một đang đi phối thuộc với tiểu đoàn Soong Sỉ của bạn. Anh cho biết sợ chúng tôi bị lạc đường nên đơn vị cho người đi đón. Chúng tôi đến nơi tiểu đoàn Soong Sỉ đóng quân đã gần mười một giờ đêm. Khi giao thùng hàng đặc biệt cho đồng chí Khăm Pha, chính trị viên tiểu đoàn Pa thét Lào, tôi thở phào nhẹ nhõm rồi cho bộ đội tản vào các hầm của bạn nằm nghỉ.

Còn đang mê man trong giấc ngủ sau hai ngày hành quân căng thẳng vất vả, bỗng tôi bừng tỉnh giấc nghe chính trị viên Khăm Pha gọi bằng tiếng Việt rất sõi: Thắng rồi các đồng chí bộ đội Việt Nam ơi! Chiến công này là công lớn nhất của các đồng chí. Nhờ có mười lá cờ các đồng chí mang vào mà chúng ta đã cắm lên chiếm giữ được cả dãy Phu Đúc này không để lọt vào tay địch. Lúc ấy tôi mới biết hàng đặc biệt đựng trong thùng lương khô là những lá cờ Mặt trận giải phóng Lào, bây giờ đã được cắm trên các điểm cao, đánh dấu vùng giải phóng của ta trước giờ ngừng bắn. Tôi nhìn đồng hồ trên tay chính trị viên Khăm Pha, lúc này đã gần một giờ chiều.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn