Bài viết

Chuyện kể Bác Hồ với các nữ anh hùng, dũng sĩ Miền nam

Chuyện kể Bác Hồ với các nữ anh hùng, dũng sĩ Miền nam

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho đồng bào, chiến sĩ miền Nam những tình cảm thân thương nhất, đặc biệt yêu quý.

Từ khi quân dân Nam Bộ đi đầu cuộc kháng chiến, Người đã tin tưởng: “Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ”(1). Trước khi sang Pháp để đàm phán về nền độc lập dân tộc, biết được tâm tư của đồng bào cả nước nói chung và đồng bào Nam Bộ nói riêng, Người đã gửi thư cho đồng bào Nam Bộ: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”(2). Nóng lòng vào với miền Nam, ngày 10/3/1968, Người gửi thư đến đồng chí Lê Duẩn, trong đó có đoạn viết: “Đi thăm khi anh em trỏng (trong đó) đang chuẩn bị mở màn thứ ba. Đi thăm đúng lúc đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em”(3).

Trong buổi trả lời phỏng vấn cuối cùng với phóng viên nước ngoài, bà Mácta Rôhát, phóng viên báo Granma, Cuba, ngày 14/7/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tâm sự: “Ở miền Nam Việt Nam, mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”(4).

Trong bản Di chúc thiêng liêng bắt đầu viết năm 1965, Bác vẫn tin tưởng rằng: “Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam-Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”(5). Tuy chưa được quay lại mảnh đất phương Nam thân yêu, nơi Người đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước và nơi người cha thân yêu đang yên nghỉ, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng về quân dân miền Nam từng giờ, từng phút. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, những anh hùng chiến sĩ thương binh miền Nam ra miền Bắc để báo công, chữa bệnh, dự hội nghị hoặc đi dự liên hoan thanh niên quốc tế đều được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đón ân cần, chu đáo, trong đó, đặc biệt là những nữ anh hùng, dũng sĩ miền Nam được sống trong tình thương yêu của Người đã ghi nhớ mãi những kỷ niệm không thể nào quên… Năm 1946, chị Nguyễn Thị Định ở Bến Tre được cử ra miền Bắc báo cáo tình hình và xin vũ khí trang bị cho Nam Bộ. Lần đầu tiên gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách rất bất ngờ, chị hết sức cảm động. Chị kể: “Chúng tôi vui sướng được ăn cơm với Bác. Trong bữa ăn, Bác hỏi chúng tôi rất nhiều chuyện về Nam Bộ. Bác hỏi cả chuyện học hành và sinh hoạt của anh chị em cán bộ, chiến sĩ. Bác lại hỏi chuyện riêng mỗi người chúng tôi.

Bác quay sang tôi hỏi tiếp: “Trong ấy, thiếu thốn súng đạn lắm. Các cô, các chú muốn xin bao nhiêu khẩu mang về?”. Quả Bác là người cha đã hiểu thấu tâm tình của con. Tôi báo cáo với Bác: “Dạ thưa Bác, thiếu lắm”. Bác nói thong thả: “Thế nào Trung ương và Chính phủ cũng có súng gửi vào Nam. Nhưng nước ta còn nghèo, các cô các chú về phải đánh Pháp cho giỏi, cướp lấy súng của nó mà dùng thì mới có nhiều vốn”. Bác nói tiếp: “Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”. Ít hôm sau, chúng tôi lại được vinh dự thay mặt cho Nam Bộ đang chiến đấu đến mừng sinh nhật Bác, nhân ngày 19/5. Trìu mến nhìn chúng tôi, giọng Bác càng xúc động: “Các cô, các chú về báo cáo với nhân dân miền Nam thân yêu rằng: Lòng già Hồ, lòng nhân dân miền Bắc lúc nào cũng ở bên cạnh đồng bào Nam bộ”. Nói xong Bác khóc. Chúng tôi đều khóc!”(6).

Chị Hồ Thị Bi (người con gái quê hương Mười tám thôn Vườn Trầu, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Gia Định (thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) ra tới Việt Bắc vừa đúng dịp kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến. Chị kể: “Hôm đó, Bác cho tôi ăn cơm cùng Bác, Bác hỏi tôi: “Cô Bi ăn được mấy chén?”. “Dạ thưa Bác, cháu ăn được ba chén”. Bữa cơm ấy có đĩa rau cải luộc do Bác tự trồng; một chén mắm cá và một đĩa thịt lợn luộc. Nhìn bữa cơm thanh đạm của Bác, lòng tôi thương Bác vô hạn. Thấy tôi cứ ngắm Bác hoài mà không chịu ăn, Bác lại gắp thức ăn cho tôi rồi giục: “Cô Bi nói với Bác ăn được ba chén, sao bây giờ ăn mãi mà chưa hết một chén?”. “Dạ, gặp Bác cháu thấy sung sướng quá nên cháu no”. Bác cười. Mấy tháng sau, lại một lần nữa tôi gặp Bác. Bác hỏi tôi: “Nghe nói cô Bi muốn báo cáo gì với Bác phải không?”. Tôi ngần ngừ rồi bộc lộ: “Dạ thưa Bác, nguyện vọng của cháu là muốn được ra Bắc để gặp Bác, gặp Trung ương và được học tập. Nguyện vọng đó đã đạt được, bây giờ cháu xin Bác cho cháu được trở về Nam chiến đấu cùng bà con”. Bác vỗ vai tôi giọng ôn tồn: “Hòa bình mới lập lại, công việc nhiều, sốt ruột là đúng nhưng cô phải ở lại ngoài này chữa bệnh cho khỏi đã”. “Thưa Bác, cháu thấy mạnh rồi, trong người hết bệnh rồi”. Biết tôi nói dối, Bác khuyên: “Không được! Cô phải ở lại chữa bệnh cho đến nơi đến chốn. Có khỏe, công tác mới được bền”. Vâng lời Bác, tôi thu xếp ở lại. Ôi! Biết bao giờ những người thân yêu của tôi – những người đã một lòng một dạ theo Đảng, theo Bác – được gặp Bác”(7).

Tháng 11/1958, chị Trần Thị Nhâm (Lý), người con gái anh hùng của đất Quảng Nam, thoát khỏi cảnh ngục tù dã man của bọn xâm lược, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh. Được sự quan tâm, săn sóc tận tình của Bác, của Đảng, của đồng bào miền Bắc và cả sự chia sẻ đau thương của nhân dân thế giới, chị lần lượt lành 42 vết thương do giặc gây ra, sức khỏe dần dần hồi phục và thỉnh thoảng chị được vào thăm nơi Bác ở.

Chị kể lại: “Bác hỏi về quê quán và bệnh tình của tôi. Bác hỏi thăm sức khỏe các cô chú, anh chị cùng ở nơi an dưỡng với tôi. Tôi kể Bác nghe tình hình đời sống và đấu tranh của chị em phụ nữ miền Nam. … Bác biết tôi cố gắng học văn hóa, nhưng còn kém về văn. Bác bảo tôi tập viết thư, viết cho Bác. Một lần đi điều trị ở nước ngoài, tôi nhận lá thư đầy tình nghĩa của Bác và tôi trân trọng viết thư về thăm Bác. Tôi chỉ viết được mấy dòng cụt ngủn: “Thưa Bác, hiện nay cháu đang điều trị. Sức khỏe cháu tốt. Các bác sĩ chuẩn bị mổ vết thương cho cháu. Nghe lời Bác dặn, cháu yên tâm chữa bệnh. Bác đừng lo cho cháu”… Tôi moi óc không biết viết thêm gì nữa cho Bác vui. Khi về nước, tôi đến thăm Bác, được Bác khen: “Cháu viết, văn không lòng thòng, ngắn gọn, thế là tốt”. Mỗi lần tôi vào thăm Bác, Bác thường cho tôi ăn cháo đậu xanh vì tôi không ăn được cơm. Lần nào, Bác cũng thấy tôi ăn ít quá, nhìn tôi, Bác lo lắng, thương xót, và nói: “Cháu ăn ít lắm, phải gắng ăn nhiều hơn. Cháu còn xanh quá, cháu cố gắng ăn nhiều cho chóng khỏe!”. Nhiều lúc, Bác dắt tôi đi dạo chơi trong vườn Phủ Chủ tịch. Bác không đưa tôi đi trên những con đường sỏi vì Bác biết chân tôi dẫm trên sỏi thì ảnh hưởng đến vết thương trên đầu. Một chiều xuân 1968, tôi lại được vào thăm Bác. Bác đang làm việc trên chiếc nhà sàn đơn sơ. Tôi rón rén vào đứng sau lưng Bác. Tôi thưa Bác là Bác làm việc nhiều quá. Tuổi Bác ngày càng cao. Bác giữ gìn sức khỏe để vào thăm đồng bào miền Nam… Bác nói: “Bác phải làm việc nhiều thì miền Nam mau thống nhất, Bác sẽ vui nhiều, khỏe nhiều”. Tôi ứa hai hàng nước mắt và thẫn thờ ngồi nhìn Bác làm việc, lòng nghẹn ngào, không dám nói thêm với Bác một lời nào”(8) Mùa thu năm 1964, chị Choóng Kring Thêm là thành viên trong Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, ra thăm miền Bắc và dự Hội nghị Quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam. Một buổi sáng tháng 10, xe đưa đoàn vào Phủ Chủ tịch. Lần đầu được gặp Bác, mọi người đều xúc động. Bác hỏi chuyện từng người. Chị Choóng Kring Thêm kể: “Bác quay sang tôi, trìu mến hỏi: “Cháu là người dân tộc Cơtu, cháu có biết nói tiếng Kinh không?”. “Dạ thưa Bác, cháu nói tiếng Kinh được ạ “. Bác bảo tôi kể cho Bác nghe về tình hình chiến đấu sản xuất của chiến sĩ và đồng bào, tình hình đời sống của bà con dân tộc, về phong trào thanh niên, phụ nữ, bộ đội du kích ở vùng người Cơtu, Ve, nơi tôi sinh ra và hoạt động. Ánh mắt Bác càng vui khi tôi kể những gương chiến đấu dũng cảm, mưu trí của các thanh niên, thiếu niên cùng các cô, bác đánh giặc, lập nhiều chiến công xuất sắc.

Bác nói: “Cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam ta chống giặc Mỹ xâm lược là toàn dân, toàn diện. Trẻ, già, gái, trai đều đánh giặc giỏi, sản xuất giỏi, đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang đều giỏi”. Gần một tiếng đồng hồ, Bác thân mật tiếp chúng tôi. Bác ân cần hỏi han từng người một như người cha đối với đàn con yêu quý đã lâu ngày mới gặp lại. Tôi hiểu đó là Bác dành tình thương yêu mênh mông của Bác cho đồng bào các dân tộc miền Nam đang đoàn kết một lòng, chiến đấu với giặc Mỹ đến cùng”(9).

Tháng 11-1965, chị Tạ Thị Kiều trong đoàn miền Nam được vào thăm Bác. Chị kể: “Bác âu yếm nhìn chúng tôi và nói bằng một giọng ấm áp: “Bác mong các cháu lắm! Bác nhớ đồng bào miền Nam lắm! Kìa sao các cháu lại khóc? Bác cháu ta gặp nhau thì phải vui chứ!”. Bác cùng chúng tôi đến một dãy bàn đặt ở giữa vườn, đã bày sẵn bánh kẹo, hoa quả, Bác thân mật nói: “Bây giờ Bác cháu ta ngồi đây nói chuyện. Mời các cháu ăn kẹo”. Bác quay sang tôi và trìu mến hỏi: “Cháu có khỏe không? Mỗi bữa cháu ăn được mấy chén cơm?”. Nghe Bác nói chén cơm tôi hơi thảng thốt vì không ngờ Bác thuộc tiếng gọi của địa phương Nam Bộ. Tôi chậm rãi thưa với Bác: “Dạ thưa Bác, cháu khỏe. Bình thường mỗi bữa, cháu ăn được hai chén. Có hôm mệt cháu ăn được một chén”. Bác cười: “Cháu ăn ít thế thôi à? Cháu phải ăn khỏe để đánh thắng giặc Mỹ chứ!”.

Bác tiếp tục hỏi chuyện từng anh em trong đoàn. Hỏi hết lượt anh em trong đoàn, Bác vui vẻ nhìn sang tôi: “Bây giờ, cháu Kiều kể chuyện cho Bác nghe nào!”. Từ nãy đến giờ, tôi vẫn ngồi bên Bác, chăm chú ngắm nhìn Bác, nghe Bác hỏi, tôi vội thưa: “Dạ, thưa Bác, được gặp Bác, cháu mừng quá. Có bao nhiêu chuyện định nói với Bác cháu quên hết”. Bác cười nói: “Cháu nhớ bao nhiêu thì nói bấy nhiêu”. Tôi báo cáo thêm với Bác về tình hình chị em phụ nữ đấu tranh chính trị và đánh du kích, về những gương thiếu nhi ở miền Nam dũng cảm cùng với cô bác đánh giặc, lập nhiều thành tích vẻ vang. Bác gật đầu tỏ ý rất vui mừng.

Bác nói: “Cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam ta chống giặc Mỹ xâm lược là toàn dân, toàn diện. Trẻ, già, gái, trai đều đánh giặc giỏi, sản xuất giỏi. Đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang đều giỏi”(10).

Năm 1966, sau khi chiến đấu trong Nam, chị Trần Kim Cúc được ra miền Bắc chữa bệnh. Chị kể: “Tôi lần đầu tiên được gặp Bác là ngày 19/6/1966. Bác nhanh nhẹn và rất bất ngờ đi vào phòng bệnh chúng tôi. Bác khoác chiếc áo bờlu như một bác sĩ già. Chợt thấy Bác, tôi định chạy nhanh ra đón, nhưng vì mừng rỡ vô hạn, hai chân tôi như dính chặt xuống đất. Bác hỏi về quê quán và bệnh tình, sức khoẻ chúng tôi.

Các bác sĩ trả lời với Bác, còn chị Mười và tôi đều nghẹn ngào, không nói được một lời nào. Bác nhìn chúng tôi rất trìu mến và giọng Bác ấm áp: “Cháu Mười ở Mỹ Tho, cháu Cúc ở Quảng Nam, mỗi cháu công tác một nơi; bây giờ về đây nằm viện phải đoàn kết, thương yêu, săn sóc lẫn nhau, coi nhau như ruột thịt, nghe các cháu!”. “Dạ!”. Chúng tôi thưa. Bác lại hỏi: “Các cháu ăn có nhiều không? Mỗi bữa ăn được mấy bát?”.

Tôi thưa với Bác: “Dạ, hai chị em cháu ăn bằng nhau, mỗi bữa được lưng chén ạ”. Hai mắt Bác nhìn chúng tôi đầy lo lắng, thương xót, rồi Bác nói: “Các cháu ăn như vậy là ít lắm. Phải gắng ăn nhiều hơn. Các cháu phải coi chữa bệnh, uống thuốc, ăn uống như nhiệm vụ, coi như là nhiệm vụ đánh Mỹ của các cháu ở miền Nam trước đây mới được”. Chúng tôi hứa với Bác là sẽ cố gắng hơn. Ngồi mãi bên Bác, chị Mười mới thưa với Bác được một câu: “Dạ, thưa Bác, Bác có khoẻ nhiều không ạ?”. Bác cười rất vui và nói: “Bác khoẻ mới đến thăm các cháu chứ!”. Tôi nghe lời Bác mà cảm động quá, nước mắt cứ ròng ròng xuống má”(11).

Năm 1968, chị Trần Thị Bưởi trong Đoàn thanh niên giải phóng miền Nam đi dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới ở Xôphia. Chị kể: “Sau Đại hội, trong khi tôi đang chờ xe trở về chiến trường thì có tin Bác cho gọi vào gặp. Hôm ấy Bác gặp tôi, chị Trương Thị Khuê, anh hùng các lực lượng vũ trang của Vĩnh Linh và chị Nguyễn Thị Xuân, nữ dân quân Quảng Bình. Hôm ấy Bác mặc áo trắng ngắn tay may kiểu ba túi rộng rãi. Bác vẫn mang dép cao su, đôi dép quai to đã mòn gót. Sau khi nghe chú Vũ Kỳ giới thiệu tên tuổi của từng chúng tôi, Bác bảo chúng tôi ăn kẹo rồi uống nước. Liền lúc đó đồng chí phục vụ bưng lên một đĩa bánh bao, mỗi cái bằng nắm tay. Bác quay về phía tôi và chị Khuê: “Bây giờ hai cháu kể chuyện Đại hội ở Xôphia cho Bác nghe”. Lúc đó đã 5 giờ chiều, ánh nắng dìu dịu chiếu qua vườn cây cổ thụ càng tôn vẻ đẹp rất trang nhã trong vườn Bác. Bác sửa lại cổ áo và dẫn ba chị em chúng tôi ra chụp ảnh. Trong khi đồng chí nhiếp ảnh chuẩn bị địa điểm, Bác bảo chúng tôi: “Mỗi cháu hát cho Bác nghe một bài nhé”. Tôi mạnh dạn xin Bác: “Thưa Bác, cháu xin hát trước”.

Bác cười rất vui: “Cháu hát bài gì?”. “Thưa Bác, cháu hát bài “Tiếng hát trên đường quê hương”. Bác gật đầu. Bỗng Bác đưa tay ra hiệu tôi khoan hát, Bác cho gọi các chú trong cơ quan đang làm việc gần đó lại cùng nghe. Tôi hồi hộp cất giọng hát. Trong bài hát có đoạn “Ai đã tới miền quê em Quảng Trị – Thừa Thiên, qua đường 9 tình Gio Linh lắng trong giọng hò…”. Bác khẽ gật đầu theo nhịp điệu của bài hát. Khi chuẩn bị chụp ảnh, Bác ân cần nói: “Cháu Bưởi miền Nam được đứng nguyên chỗ này”. Tôi cảm động quá! Lúc nào Bác cũng nghĩ tới miền Nam, lúc nào Bác cũng dành cho miền Nam phần vinh dự nhất”(12).

Cuối năm 1968, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, chị Hồ Thị Thu (Quảng Nam) cùng các dũng sĩ thiếu niên khác được dự mít tinh tại hội trường Ba Đình. Chị kể: “Tối hôm đó, khi mọi người vừa ngồi vào ghế thì Bác Hồ bước ra đoàn chủ tịch. Mọi người sung sướng đứng dậy vỗ tay hoan hô Bác. Bác Hồ vui vẻ đưa tay vẫy chúng em: “Đoàn tý hon lên đây!”. Bác lấy từng bông hoa hồng thắm đỏ rất đẹp trong những lẵng hoa trên bàn tặng chúng em. Suốt buổi lễ em ngắm Bác say sưa. Mít tinh xong Bác lại dặn dò chúng em cố gắng giữ gìn sức khỏe để học tập, lao động được tốt. Bác dặn chúng em phải thương yêu nhau và nghe lời các cô chú dạy bảo… Riêng em, Bác dặn: “Cháu Thu da còn xanh, phải cố gắng điều trị cho khỏe”. Em bồi hồi xúc động, vì Bác bận nhiều công việc to lớn của đất nước mà Bác vẫn quan tâm đến từng cháu, từng việc nhỏ…

Tết năm 1969 em lại được cùng các bạn dũng sĩ miền Nam vào chúc Tết Bác. Xe vào đến Chủ tịch phủ, em đã thấy Bác đứng chờ ở phòng khách. Hôm ấy, Bác lại cho chúng em ăn cơm với Bác. Đó là bữa ăn bình thường như những bữa ăn trước, nhưng em thấy thêm cây hoa, bánh tét nên em thấy như được ăn Tết với ông nội vậy. Chúng em cảm động và vui lắm. Lúc sau, đoàn đại biểu Cuba do cô Menba dẫn đầu đến thăm Bác. Cô Menba vừa bắt tay Bác đã khóc nức nở… Ít lâu sau, do hậu quả của cuộc chiến tranh tàn khốc nên em bị sốt rét nặng, mê man trên giường bệnh. Khi em tỉnh lại, các cô, các chú bảo rằng: Bác Hồ gọi điện hỏi thăm sức khỏe của em. Bác lo cho em và Bác mong em chóng lành. Em nghe các chú nói lại mà xúc động không cầm được nước mắt”(13).

Năm 1969, chị Nguyễn Thị Ráo đang ở chiến trường Trà Vinh được cử làm đại biểu trong phái đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc. Đoàn được gặp Bác mặc dù lúc này Bác không được khỏe! Chị kể: “Chiều mồng 5/3/1969, chúng tôi đến Phủ Chủ tịch, ngoài trời mưa phùn rắc nhè nhẹ, tôi thấy một cụ già râu tóc bạc phơ một mình chống gậy ra đón chúng tôi tận cổng.

Các đồng chí khác tràn đến bên Bác, ôm vây chặt Bác. Còn tôi đứng cách ra cắn chặt lấy chéo khăn để khỏi bật khóc lớn, nhưng sao nước mắt cứ trào tuôn. Nhưng Bác lại đưa tay chỉ vào tôi, Bác bảo: “Cháu gái, đừng khóc, khóc miệng méo xệch, quay phim xấu lắm”. Thay mặt phái đoàn, anh Phùng Văn Cung đứng lên báo cáo với Bác tình hình miền Nam khoảng mươi phút. Sau đó Bác gọi ngay tôi đến ngồi bên Bác báo cáo về Phụ nữ miền Nam cho Bác nghe. Tôi thưa Bác: “Lúc cháu đi, quân dân miền Nam dặn cháu ra thưa với Bác rất nhiều điều, cháu gặp Bác mừng quá nên quên hết. Nhưng cháu còn nhớ một điều mà dân, quân miền Nam vâng lời Bác dạy đánh Mỹ, bao nhiêu năm cũng không sợ chỉ sợ Bác trăm tuổi”. Bác cảm động và nói vui: “Năm nay Bác 79 tuổi, Bác gọi quân, dân miền Nam đánh Mỹ 5, 10 đến 20 năm, chừng đó còn một năm Bác sẽ vào Nam thăm các cụ lão, các cô, các chú, các cháu nhi đồng miền Nam, chớ Bác có gọi đánh 21 năm bao giờ mà sợ Bác trăm tuổi?”. Bác vừa nói vừa cười làm cho các đồng chí đều cười vui vẻ. Bác sĩ, các anh Bộ Chính trị sợ Bác mệt, mời Bác vào nghỉ, Bác đứng dậy làm hai câu thơ: Bước đầu muôn dặm một nhà; Bắc Nam sum họp thật là vui thay”(14).

Sáu năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng và ngọn cờ: Không có gì quý hơn độc lập tự do của Người, quân dân ta đã đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thỏa lòng mong ước của Người. Kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam, chúng ta ôn lại một số câu chuyện tình cảm sâu sắc, thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với quân dân miền Nam nói chung và các nữ anh hùng dũng sĩ miền Nam nói riêng để cả nước đoàn kết, đồng lòng, quyết tâm đi theo con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn