Bài viết

Chuyện kể Bác Hồ với các nữ anh hùng quân đội

14/08/2026Lê Thị Thanh Vân ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Trong hàng ngàn năm lịch sử hào hùng ấy, phụ nữ Việt Nam luôn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước độc lập, phồn vinh. Như trong Thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Khởi nghĩa Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế Phụ nữ ngày 08/03/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”(1). Ngày Quốc tế Phụ nữ năm 1953, Người viết bài đăng báo Nhân dân, biểu dương cụ thể thành tích của chị em phụ nữ: “Việt Nam ta, trong phong trào thi đua diệt giặc lập công, tăng gia sản xuất, phục vụ chiến dịch, bình dân học vụ, nữ du kích, nữ anh hùng, nữ chiến sĩ, và nữ thanh niên xung phong đã có nhiều thành tích vẻ vang. Chúng ta cũng nhớ công ơn các bà mẹ và chị chiến sĩ”(2). Tại Đại hội liên hoan phụ nữ “Năm tốt”, ngày 30/4/1964, Bác nhấn mạnh: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ ta đã góp phần khá lớn làm cho cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi vẻ vang (…) Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ. Phụ nữ ta tham gia ngày càng đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội”(3).

Trong tình thương yêu và quan tâm săn sóc mọi tầng lớp đồng bào, trai gái, già trẻ, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, kiều bào ở nước ngoài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có sự ân cần đặc biệt dành cho những nữ anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang của quân đội nhân dân Việt Nam.

Bởi hơn ai hết, là người sáng lập, rèn luyện, dìu dắt quân đội ta từng bước trưởng thành qua các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, những năm tháng trường kỳ kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, Bác càng thấu hiểu những khó khăn, gian khổ, hy sinh của những người lính nói chung, của các chiến sĩ gái (cách gọi gần gũi của Bác) nói riêng.

Vị nữ tướng đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam – Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam, mà đồng bào và cán bộ, chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam Việt Nam thường gọi với cái tên gần gũi, thắm thiết “Cô Ba Định” kể về ấn tượng lần đầu tiên khi trong phái đoàn Nam Bộ ra miền Bắc báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ về tình hình sau Hiệp định sơ bộ 06/3/1946 và xin vũ khí trang bị cho Nam Bộ. Bác nhìn những người con miền Nam trìu mến và ấm áp nói: “Đồng bào và chiến sĩ đang ra sức khắc phục khó khăn, thiếu thốn để kháng chiến. Chính phủ và đồng bào cả nước sẽ hết sức cùng chiến sĩ và nhân dân Nam Bộ hiện đang anh dũng đấu tranh để giữ vững độc lập dân tộc. Chúng ta nhất định thắng lợi, vì chúng ta có sức mạnh đoàn kết của toàn dân. Chúng ta nhất định thắng lợi, vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa”(4). Chị Ba Định đã hết sức cảm động bởi đôi mắt của Bác, đôi mắt sáng ngời, đầy chí kiên quyết, nhưng đồng thời cũng thân thương, trìu mến, hiền hậu vô biên. Chị kể: “Chín năm kháng chiến, bản thân tôi đã nhiều lần suýt chết. Nhưng mỗi lần gặp gian nguy, thậm chí có những trận mặt đối mặt với kẻ thù, tôi lại thấy hình ảnh Bác hiện rõ trong tâm trí mình. Bác đã truyền cho tôi sức mạnh phi thường. Nhờ đó, tôi đã vượt qua không biết bao nhiêu đoạn đường chông gai, thử thách”(5).

Đúng là “miền Nam yêu quý luôn trong tim tôi” như Bác đã từng nói.

Tình cảm của Bác dành cho đồng bào miền Nam là tình cảm bao la, “tình cảm máu thịt”. Bác luôn dành thời gian đón tiếp các đoàn anh hùng, chiến sĩ quân giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc. Bác căn dặn những người con miền Nam phải giữ gìn sức khỏe vì thời tiết, khí hậu miền Bắc rất khác Nam Bộ. Gặp tiết trời mùa đông, lần nào Bác cũng hỏi các anh hùng có mặc đủ ấm không. Thấy đồng chí nào mặc không đủ ấm Bác tỏ ý không vừa lòng. Bác căn dặn các đồng chí bên

Tổng cục Chính trị: Phải làm các món ăn địa phương thì các cháu miền Nam mới ăn được nhiều, sức khoẻ mới tốt.

Các anh hùng chiến sĩ thi đua miền Nam về thăm Bác luôn luôn xúc động và cảm thấy mình được lớn lên trong tình thương yêu của Bác. Anh hùng Tạ Thị Kiều đã xúc động nói rằng: Càng được gần Bác, càng hiểu tình thương yêu cán bộ chiến sĩ và đồng bào miền Nam của Bác là vô cùng(6).

Cùng với việc đánh giá cao tấm gương của các nữ anh hùng trong kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở các chị phải luôn khiêm tốn và quyết tâm, cố gắng hơn nữa. Chị Trần Thị Bưởi, Dũng sĩ diệt Mỹ năm 1968 ở mặt trận Khe Sanh, được vào gặp Bác sau khi đi dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ chín ở Xôphia (Bungari) về. Bác rất vui khi chị thưa lại với Bác về những tình cảm nồng thắm của bạn bè thế giới ở đại hội dành cho Việt Nam và căn dặn: “Đừng vì thấy bạn bè thế giới kính nể, tôn trọng mà huênh hoang, tự mãn. Phải khiêm tốn và phải quyết tâm đánh thắng Mỹ lớn hơn nữa. Vì có thắng Mỹ lớn thì bạn bè mới càng thương yêu ta nhiều hơn, và như vậy là ta không phụ lòng của bè bạn thế giới”(7).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, miền Bắc là hậu phương lớn chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam đồng thời ngày đêm chống trả chiến tranh phá hoại bằng không quân của Đế quốc Mỹ đối với miền Bắc. Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho Quảng Bình – “tuyến đầu miền Bắc, tiếp giáp với miền Nam” tình cảm vô vàn mến thương và sự ưu ái đặc biệt. Mỗi chiến công trong chiến đấu hay mỗi thành quả trong phong trào hợp tác hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội tại quê hương “Hai giỏi” đều được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, cổ vũ, động viên sát sao. Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy – đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen và hai lần tặng thưởng huy hiệu của Người. Đặc biệt, vinh dự và tự hào, năm 1969, Chính trị viên Trần Thị Thản đã cùng các đồng chí đại diện lực lượng vũ trang quân khu 4 được ra Hà Nội gặp Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo thành tích. Đại đội pháo binh Ngư Thủy 100% là con gái, được Bác ưu tiên cho báo cáo trước. Buổi báo công với Bác vui vẻ, gần gũi thân thương chẳng khác gì một buổi chuyện trò, tâm sự giữa cha với con, ông và cháu.

Ai nấy đều lắng nghe Bác dặn từng lời, và vì sợ Bác mệt nên không ai dám nói nhiều. Mải nghe Bác dặn dò nên mọi người chưa đụng đến kẹo nước đã bày sẵn trên bàn. Thấy vậy Bác nhắc: – Kìa các cháu ăn kẹo, uống nước đi chứ. Nếu không ăn kẹo ở đây thì chia nhau mang về ăn, nhưng nước thì không được chia!

Mọi người cùng cười vui, nhưng sau đó chợt nghĩ lại thật thấm thía câu nói vui của Bác. Hơn ai hết, Người mong sao nước nhà mau chóng thống nhất, để đồng bào hai miền giới tuyến được sum họp một nhà(8).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa khi tâm nguyện của Người chưa trở thành hiện thực. Nhưng trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trước lúc đi xa, Người dự báo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể kéo dài song nhất định thắng lợi thuộc về nhân dân ta. Người căn dặn sau khi kháng chiến thắng lợi, chúng ta ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển đất nước; Đảng và Nhà nước phải quan tâm chăm lo tới mọi đối tượng trong xã hội, đem lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân.

Người đã không quên nhắc tới phụ nữ Việt Nam: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”(9).

Những lời chỉ dạy, quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phụ nữ từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến những lời di chúc để lại trước lúc đi xa, đều thể hiện tình cảm cao quý, lòng yêu mến và đánh giá cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Đó vừa là tình cảm, vừa là huấn thị thiêng liêng mà Bác dành cho phụ nữ Việt Nam nói chung, những nữ anh hùng quân đội nhân dân nói riêng. Tình cảm đó sẽ tiếp tục trở thành nguồn sáng tinh thần to lớn dẫn dắt chị em phụ nữ ngày hôm nay phát huy mọi tiềm năng to lớn vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Chú thích:

(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2011, tập 7, tr.340

(2).  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 8, tr.80 (3).  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 14, tr.310

(4). Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb CTQG, H.2005, tập 2, tr.265

(5). Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb CTQG, H.2005, tập 2, tr.265

(6). Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb CTQG, H.2005, tập 2, tr.940

(7). Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb CTQG, H.2005, tập 2, tr.1016

(8). Đặc san Thông tin tư liệu Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, số XVII, tháng 5-2015

(9).  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.617

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn