Chuyện kể của một CCB tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
- Đại tá Tống Văn Giáp – sinh năm 1951, tại khu 3 xã Xuân Lộc (Thanh Thủy). Tháng 4-1970, lúc đó mới 21 tuổi, cũng như bao thế hệ cha anh khác, anh hăng hái lên đường làm nhiệm vụ cao cả bảo vệ Tổ quốc, anh đóng quân tại chiến trường Tây Nguyên, Lữ đoàn pháo binh 40, Sư đoàn 10 mặt trận Tây Nguyên. Ngày 26-3-1975 Quân đoàn 3 được thành lập, anh nhận công tác ở Sư đoàn 10. Đây là một trong những đơn vị của Quân đoàn 3. Anh cùng đơn vị tham gia chiến dịch Buôn Mê Thuột năm 1975, tham gia giải phóng Khánh Hòa – Nha Trang. Sau trận thắng này, đơn vị anh từ Nha Trang vượt đèo Sông Pha đến Duy Linh huyện Gia Nghĩa – tỉnh Đăk Nông, đến tỉnh Bình Long, Bình Phước tập kết ở Dầu Tiếng chuẩn bị chiến dịch 30 tháng 4 năm 1975. Trong chiến dịch này đơn vị của anh – Trung đoàn pháo binh có nhiệm vụ chi viện cho Sư đoàn bộ binh 10, tấn công 3 mục tiêu lớn của Sài Gòn là Bộ Tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất và Dinh Độc Lâp, nhưng tập trung chính ở Bộ Tổng tham mưu và một phần sân bay Tân Sơn Nhất. Đơn vị anh lúc này chủ yếu sử dụng các loại: Pháo 105, cối 160, lựu 122… Nhiệm vụ chính của anh và đồng đội trong trận đánh lịch sử có ý nghĩa quyết định đến vận mệnh của đất nước là: Đo đạc, tính toán thông số kỹ thuật, khoảng cách, cự ly, ảnh hưởng của thời tiết, sức gió đến độ chính xác của đạn pháo khi ta bắn phá vào Bộ Tổng tham mưu ngụy. Bằng năng lực, kinh nghiệm chiến đấu, sự đoàn kết cao của đồng đội, đơn vị của anh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đóng góp to lớn vào thành công của chiến dịch.
Khi tôi hỏi, kỷ niệm nào làm anh nhớ nhất trong trận đánh lịch sử 30-4 anh nói: “Trong tôi rất nhiều kỷ niệm đẹp và đáng nhớ, nhưng tôi muốn kể về một trận đánh mà tôi không thể nào quên được đó là: Đêm ngày 29-4-1975, đơn vị của tôi tham gia đánh vào trại huấn luyện Quang Trung của ngụy, trong trận đánh này quân ta hoàn toàn chiếm thế chủ động, bắt sống địch, tịch thu vũ khí, quân dụng; làm công tác tư tưởng, tuyên truyền, vận động về sự độ lượng khoan hồng của Nhà nước ta để tạo cho họ cơ hội làm người… sau đó quân ta phóng thích với số lượng gần 1 vạn quân ngụy”.
Sau trận đánh đã đi vào lịch sử ấy, có một vài lần anh cùng đơn vị chuyển địa điểm đóng quân, cho đến năm 1979, anh được điều động lên Bắc Thái – công tác ở Quân đoàn 3, làm nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc. Từ năm 1988 đến năm 1996 anh giữ các chức vụ: Trung đoàn phó, Tham mưu trưởng Trung đoàn 4, Sư đoàn 10, Lữ đoàn phó, tham mưu trưởng Lữ đoàn pháo binh 40; Chủ nhiệm pháo binh Quân đoàn Bộ Tham mưu, Quân đoàn 3.
Sau nhiều năm cống hiến trong quân đội đến tháng 7 năm 2003 anh nghỉ hưu. Về quê hương, anh luôn tích cực tham gia các hoạt động của khu dân cư, sống hòa thuận, đoàn kết, thắt chặt tình làng nghĩa xóm. Gia đình anh được công nhận là gia đình hiếu học tiêu biểu toàn tỉnh năm 2004. Bản thân anh đã được nhận Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương kháng chiến; 1 Bằng khen dũng sỹ diệt cơ giới và dũng sĩ quyết thắng.
(Ghi theo lời kể của Đại tá: Tống Văn Giáp - xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy)



