Cựu chiến binh

Chuyện kể của người đại đội trưởng Trinh sát

Từ Hà Nội vào Bình Long sau một chặng đường dài, vừa gặp nhau là Bình- Nguyễn Quốc Bình - hối anh em tôi đi ngay sang Tây Ninh thắp hương cho đồng đội. Giữa trưa nắng, trên đồi 82 hun hút gió, chúng tôi đứng trước hàng ngàn nấm mồ lính Sư đoàn 320 hi sinh ở mặt trận Tây Nam. Trong nhang khói, Bình khấn đồng đội: “Anh em ơi hãy về đây! Hút điếu thuốc, uống miếng nước với các anh trong Ban Liên Lạc bạn chiến đấu Sư đoàn 320 từ Hà Nội mới vào...". Nghẹn ngào. Chua xót.

Thanh Hóa24/10/2026Phường An Lộc (Đoàn phường An Lộc)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ Hà Nội vào Bình Long sau một chặng đường dài, vừa gặp nhau là Bình- Nguyễn Quốc Bình - hối anh em tôi đi ngay sang Tây Ninh thắp hương cho đồng đội.

Giữa trưa nắng, trên đồi 82 hun hút gió, chúng tôi đứng trước hàng ngàn nấm mồ lính Sư đoàn 320 hi sinh ở mặt trận Tây Nam. Trong nhang khói, Bình khấn đồng đội: “Anh em ơi hãy về đây! Hút điếu thuốc, uống miếng nước với các anh trong Ban Liên Lạc bạn chiến đấu Sư đoàn 320 từ Hà Nội mới vào...". Nghẹn ngào. Chua xót.

Tiếng ve kêu ở nghĩa trang Tân Biên buồn thế. Gió nơi này sao mà buồn thế. Và chúng tôi, những cựu chiến binh tuổi gần bảy mươi, như thấy những người bạn mình, vẫn trẻ trung ở tuổi hai mươi, ùa về. Thổn thức thế.

Tối hôm ấy, tại thị xã Bình Long - Bình Phước, chúng tôi, những người lính cựu của Sư đoàn 320, đã được cùng nhau chia sẻ bữa cơm với những món ăn rất chi là lính, ở nhà riêng của Bình, do chính chủ nhà tổ chức: Mít non sào lòng heo, lá củ mì muối chua kho cá, lại có cả củ mì thái lát sào tóp mỡ. Chúng tôi ngồi bên nhau cùng nhớ về lửa khói đạn bom năm xưa, cùng nhắc đến những người bạn không về. Căn nhà của Bình là chỗ tụ họp anh em Sư đoàn 320 để hùn hạp, giúp đỡ nhau vươn lên, thoát khỏi cái nghèo cái khó của cuộc sống gia đình lính sau chiến tranh.

Ở Bình Long ai mà không biết tới “Bình Ong”. Một mình nhà anh đã có năm trăm đõ ong mật. Bình đang làm Chủ tịch Hội Nuôi ong của cái thị xã yên tĩnh này. Dù trăm công ngàn việc nhưng Bình Ong hàng năm bỏ cả vài chục ngày đi tìm đồng đội, đi tìm gặp anh em CCB để bàn cách giúp đỡ những ai nghèo khó. Phẩm chất này, Bình đã thể hiện khi còn đang trong quân ngũ. Tối ở nhà anh hôm ấy, chúng tôi được nghe Bình kể về một kỷ niệm của thời chiến đấu chống lũ diệt chủng Pol-pot mà anh đã trải qua.

Bình kể :

…Lần ấy, tôi được cấp trên giao cho nhiệm vụ là đưa một tổ trinh sát do cán bộ đại đội chỉ huy đi về hướng X tìm bắt liên lạc với một bộ phận phản chiến của lính Pol-pot, rồi đưa họ ra ngoài an toàn. Tôi biết, không chỉ trinh sát Trung đoàn mà trinh sát Sư đoàn, trinh sát Mặt trận cũng đang làm nhiệm vụ ấy. Nhận lệnh rồi mà băn khoăn: Trong vùng cài răng lược này, làm thế nào để tìm ra họ? Làm sao để phân biệt giữa họ với tụi lính Pol-pot khác? Cũng cùng một loại trang bị, một loại súng ống... Nhầm nhỡ là tổn thất ngay lập tức. Nhưng lệnh ban ra là thực hiện không chần chừ. Tôi nhẩm tính, thế nào cũng có cuộc tao ngộ chiến đây. Phần thắng sẽ thuộc về bên nào có trí thông minh và quyết tâm cao. Hơn một năm nay, chúng tôi thèm nhớ quê hương. Quê hương chỉ hơn một tầm pháo là đến nơi. Ở đó, người thân sau mấy chục năm chiến tranh với ngoại xâm đang đợi chờ ngày chúng tôi trở về. Ở đó, ước mơ đi học để trở thành thầy giáo đang đợi tôi... Nhưng chúng tôi vẫn còn phải lăn lộn nơi chiến trận, hiểm nguy có thể đến bất kỳ lúc nào.

Và chúng tôi không cần chờ đợi lâu gì. Chỉ mới nửa buổi hành quân, tại một trảng rừng ngột ngạt hơi ẩm, chúng tôi đã gặp lính Pol-pot. Chỉ cách nhau vài chục bước chân. Khi nhìn thấy họ đi về phía mình, chúng tôi đã kịp ngồi xuống. Tôi là Đại đội trưởng đi đầu, chỉ kịp vẫy tay anh em sẵn sàng chiến đấu. Căng mắt quan sát địch, tay vẫn trong vòng cò AK báng gấp, tôi bảo anh em: "Tao ra nhá! Nổ súng thì phải nổ đồng loạt. Đừng bắn vào lưng tao!".

Khẩu AK nóng ran ngang bụng, họng súng cũng ngang tầm bụng đối phương. Tôi tiến lên từng bước nhỏ. Một thằng nói rất đanh và gằn giọng: “Tam phờ lâu na!” rồi tiếng thét “Oài!” liền sau đó, làn đạn của đối phương xẹt ngang đầu tôi. Chiếc quần đùi có sọc đội trên đầu giả làm khăn rằn của lính Pol-pot rớt xuống, tôi quì gối, miệng hét, tay xiết cò. Ngón tay tôi lâu nay trở nên nhậy cảm đến khủng khiếp khi đụng độ với kẻ thù. Chỉ mới một năm, từ người chiến sĩ trở thành Đại đội trưởng, sự sống chết đã dậy cho tôi có sự mẫn cảm lạ thường. Trừ thằng đi đầu, còn tất cả những thằng phía sau, đứng sin sít nhau chưa kịp nâng súng lên thì đã bị loạt đạn của anh em trinh sát phía sau tôi đốn ngã.

Địch bỏ chạy. Hết loạt đạn tôi rút US ném về phía có tiếng gào. Rừng im bặt. Cuộc tao ngộ chiến chỉ kéo dài một phút đã để lại năm xác lính Pol-pot. Tôi thay băng đạn, bảo anh em tịch thu ba khẩu súng rồi trở lui. Chúng tôi đi lại con đường cũ chừng năm mươi mét thì nghe tiếng rên trong bụi cây. Tôi và chiến sĩ Thắng xộc vào thấy một người Khơ-me đang chắp tay lạy. Người này bị thương ở chân, vết thương đã được băng lại bằng một chiếc khăn rằn. Chả biết đó là dân hay lính nữa vì chỉ thấy trên người độc một chiếc quần đùi cáu bẩn. Tôi đoán người này nằm trong bụi chắc đã vài ngày vì người nó hôi lắm.

Đời lính cũng lạ ghê. Đánh nhau xong rồi là lòng thương lại trở lại. Thấy mình không chỉ là người cầm súng. Những lúc nằm trong rừng im tiếng súng chúng tôi lại vẫn là những đứa con của mẹ ở quê, cảm thấy như thể đang nằm trên cánh đồng quê mình, như là mình đang ở trường cấp III, vẫn sợ thầy cô giáo, sợ nội quy và rất yêu bạn mình. Bấy giờ, nhìn người đàn ông gày gò không có súng ống, chúng tôi không nỡ làm điều ác, không nỡ dọa dẫm và lạnh lùng bỏ đi. Làm sao đây? Bỏ lại ư? Anh ta sẽ chết đói, hoặc sẽ bị trúng đạn pháo của cả hai bên bất cứ lúc nào. Hoặc sẽ gặp thú dữ . Lính trinh sát thường không nghĩ ngợi lâu, không do dự nơi lằn ranh sống - chết. Chúng tôi dìu người Khơ-me đi theo, dù biết là làm như vậy, cuộc hành quân sẽ thêm khó khăn. Lúc đầu còn rên và khóc sợ hãi, lát sau thấy chúng tôi thật lòng người đàn ông ấy im bặt, bặm môi theo chúng tôi. Nhưng chuyện oái oăm không dừng ở đó. Những oái oăm cứ theo chúng tôi suốt cuộc công tác này như thử lòng những người lính tình nguyện chúng tôi đang làm nghĩa vụ cứu giúp một dân tộc khỏi nạn diệt chủng. Mặt trời thì chói chang, chúng tôi khát nước, đến nỗi những vòng tròn bẩy màu cầu vồng cứ loa lóa mắt. Tôi ước đây là cánh đồng làng tôi, tôi sẽ nằm ngay xuống bờ ruộng, chân thõng xuỗng bùn nhắm mắt lại dưới trời nắng bập bùng. Bụng bảo dạ, chết ở quê vẫn sướng hơn.

Đi tiếp vài trăm mét, chúng tôi bỏ đường mòn, cắt rừng mà đi, để tránh hướng tàn quân lúc nãy chạy vào. Đúng lúc ấy chúng tôi nhìn thấy một em bé gái đang nằm co quắp giữa lối đi. Nó gầy queo quắt, chỉ nhỏ như đứa trẻ lên 5 tuổi, bụng tóp lại, da tái mét. Cặp mắt trắng rã thô lố của nó nhìn chúng tôi thất thần, sợ hãi. Chỗ này rừng lưa thưa, có thể nhìn xa hàng chục mét. Tôi quan sát cẩn thận rồi chạy lại chỗ em bé, ra hiệu cho người phiên dịch hỏi nó. Em bé nói lộp bộp tiếng được tiếng mất. Hỏi nó đói không? Nó gật. Hỏi nó khát không? Nó gật. Đưa lương khô cho nó ăn và nước cho nó uống. Rồi hỏi nó, lấy nước ở đâu? Nó ngửa mặt lên trời xòe hai bàn tay bụm lại đưa lên miệng. À thì ra nó chỉ uống nước nhờ trời mưa. Con bé đứng lên không nổi. Vậy là nếu không muốn để nó lại cho thần chết, chúng tôi chỉ còn cách cõng nó theo. Bây giờ thì đội hình hành quân có thêm hai nhân mạng nữa. Một què một sắp chết đói. Đội trinh sát đã gian nan nay lại càng gian nan gấp bội. Thực ra, suốt dọc đường, lúc chui luồn trong rừng, chúng tôi luôn lo người đàn ông kia là lính địch. Không biết là tôi sai đã hay đúng khi quyết định mang người đàn ông bị thương đi theo đội hình. Sai, nếu chẳng may đó là kẻ địch. Đúng, nếu cứu sống được một người vô tội. Đầu óc tôi mông lung, nhưng khi quay lại nhìn hai sinh mạng Khơ-me ấy, tôi lại thấy hình như mình làm đúng. Cứ hai tiếng chúng tôi lại nghỉ chân. Trong khi ai nấy đều bệt đít xuống cỏ và ngửa mặt lên giời ngáp ngáp cho lại sức, tôi bò đi kiểm tra vị trí xung quanh. Tôi thấy nơi hõm mắt hốc hác của người đàn ông đọng hai giọt nước cáu bẩn. Nước mắt.

Cứ thế chúng tôi đi về phía trước, với hy vọng nơi ấy có thể những người lính phản chiến và gia đình họ đang đi tìm chúng tôi. Họ cũng đang trong tình trạng nguy hiểm. Nếu chả may gặp lính Pol-pot, quân lính cùng dòng máu của họ, chắc chắn họ sẽ bị giết bằng sạch. Đoạn đường chúng tôi đi, nếu không chằng chịt những dây leo, um tùm gai lưỡi mèo, vướng víu khó chịu vô cùng, thì lại là những lùm tre gai rậm rịt, lại dốc. Chúng tôi vẫn dìu người đàn ông Khơ-me và cõng cháu bé oặt oẹo để chui qua những lùm gai tre đan nhằng nhịt vào nhau.

Chúng tôi dừng lại ăn cơm nắm. Đôi mắt bé gái lúc này như trong lại. Nó nhặt những hột cơm nguội đưa vào miệng thật cẩn thận, đầu rúc vào vai tôi. Ăn xong, tôi chặt cho người đàn ông một chiếc gậy để anh ta có thể chống mà đi tiếp, rồi dặn mọi người im lặng, còn mình vác súng chui ra khỏi khoảng rừng. Trời đất ạ! Hóa ra chúng tôi đang ở cách một con đường có vết xe bò chỉ chừng chục mét. Tôi ngó sang trái, và khi ngó sang phải, thì thấy địch từ phía bên phải đang đi tới. Tôi nhìn thấy chúng thì chúng cũng đã nhìn thấy tôi. Đang ở tư thế bò, tôi nhổm liền dậy, nổ súng vào đám Pol-pot chưa kịp tản ra. Hai cái xác ngã vật xuống và những tiếng hét hãi hùng. Chúng chạy quay lại. Đúng lúc ấy cậu trinh sát sư đoàn ôm khẩu phóng lựu chạy ra, nổ cạch oành cạch oành hai quả về phía địch chạy. Các loạt AK của nhóm trinh sát ghìm đầu bọn Pol-pot xuống. Chúng tôi bỏ không thu súng địch nữa mà rút chạy ngay.

Làm lính trinh sát là phải luôn tránh địch và hạn chế nổ súng. Nhưng ngày hôm ấy toàn là gặp địch mà địch lại nhìn nhìn thấy mình. Chúng tôi dìu nhau chạy đến một khu rừng hướng chiến tuyến của mình. Đội hình cứ giữ cách nhau ba mét, chui qua những bụi tre gai mà đi. Những bụi tre như từ nguyên thủy hiện ra rậm rì xanh ngằn ngặt. Tôi nửa bò, nửa ngồi xổm cõng đứa bé gái. Con bé nhìn tôi, nó cũng khóc vì thương tôi. Nước mắt nó rơi ấm trên cổ tôi. Đúng lúc tôi quay lại gỡ gai tre móc vào áo thì có tiếng quát. Tiếng Miên. Một loạt súng địch vang lên. Lá tre rụng rào rào. Tôi cũng bắn đại về phía trước vài loạt rồi lăn xuống một cái hố. Nghe tiếng "phốc "mà không thấy nổ, tôi đoán chúng bắn phóng lựu quá tầm. Bỗng ba tiếng nổ xa phía sau. Hay quá! Mày bắn chặn hộ tao phía sau rồi. Tôi mò dưới lùm cây, kéo đứa bé gái lên lưng rồi lệnh kiểm tra quân số. May thế. Chúng tôi vẫn đủ, cả người đàn ông Khơ-me cũng không làm sao. Tôi lệnh cắt sang ngang, chuyển hướng về phía tây. Khốn nạn, lại vướng một con suối. Bờ xuống rất dốc và chằng chịt dây rừng. Hai chiến sĩ sang trước chọn vị trí cảnh giới để tôi cõng cháu bé và dẫn người đàn ông sang sau. Đám dây bùng nhùng khiến tôi xoay xở hì hụi rồi lăn tròn xuống nước. Cả tôi và cháu bé ngụp dưới suối . Con bé con khóc thét lên. Tôi bịt miệng nó ghé sát vào tai thì thào, im nào! Chả biết nó có hiểu tiếng của tôi không mà nó im bặt và ôm chặt lấy tôi. Mặt nó đầy nước mắt và nước suối. Lúc nó khóc thét lên tôi bịt miệng nó nghe rõ tiếng òng ọc của nước suối trong miệng nó. Trong hiểm nguy tính mạng con người, trước cái sống cái chết, không cần tiếng nói hay đẳng cấp, dân tộc, con người hiểu nhau hết thảy và chỉ nhìn vào mắt nhau thôi, chỉ nghe hơi thở thôi, là con người biết đó là kẻ thù hay đồng loại hay cứu tinh. Chỉ có sự phán xét khi ở xa cái chết mới làm cái chết có màu sắc và tư tưởng siêu quần.

Đội hình qua suối an toàn. Thế là lại một ngày trôi qua. Chúng tôi nhận được lệnh trở về trung đoàn (Mãi về sau này tôi mới biết mũi trinh sát của Trung đoàn 48 đã gặp được cánh quân phản chiến và đưa họ ra căn cứ an toàn)

Đêm ấy, trên đường quay về đơn vị, tôi lấy nước suối và giã nhỏ miếng lương khô cuối cùng vào cái ca bi đông chia cho người đàn ông và đứa bé mỗi người một nửa. Tôi nhai nắm lá bứa chua tê tê đầu lưỡi nghe bụng sôi èo èo. Con bé con rúc vào nách tôi ú ớ nói mơ. Tôi lại bụm miệng nó lại. (Sau này khi có con tôi mới thấy mình tàn bạo thế nào khi bịt miệng đứa trẻ làm tan vỡ giấc mơ của nó. Tôi cam đoan rằng giấc mơ của trẻ con đều là những điều ước mơ tốt đẹp ở đời). Tôi quay sang người đàn ông Khơ-me cởi trần, đang bóc những miếng vẩy lở loét ở vết thương của mình, nét mặt khá bình yên. Đã ba hôm nay nhờ có thuốc sát trùng của trinh sát mà chân anh ta có vẻ đỡ hơn. Chúng tôi đưa cho người đàn ông một cái quần đùi và bảo ảnh ta đội lên đầu để xệ cái sọc xuống vai. Anh ta bần thần một tị rồi chợt hiểu ra. Anh ấy khóc.

Chuyện đánh nhau thì các đồng đội, và ngay cả những người ngoài cuộc đều hiểu là hiểm nguy, chết chóc. Nhất là những đồng đội đã từng ở chiến trường Tây Nam, chẳng ai lạ gì nữa. Nhưng đánh nhau mà trong đội hình có cả một người đàn ông bên đối phương bị thương và một đứa trẻ sắp chết đói thì quả là hi hữu. Có lẽ sự căng thẳng làm tính cơ động và bất ngờ của chúng tôi giảm đi mất một nửa. Nhưng tôi chả ân hận gì về việc bắt lính mình phải một phen khổ sở vì hai sinh mạng đến từ phía đối phương ấy. Đồng đội tôi cũng thật tuyệt vời khi họ sẵn sàng nhường khẩu phần ăn cho hai người Khơ-me nọ, và đã vượt qua những tình huống hết sức khốn đốn mà cắn răng không kêu ca một lời.

Cựu Đại đội trưởng trinh sát im lặng một lúc rồi, trong khoảnh khắc trầm lắng của đêm Bình Long, anh nói như hơi thở của gió:

- Bốn mươi năm qua, liệu người đàn ông ấy còn sống không? Tôi nhớ hôm giao nó cho bộ phận Dân - Địch- Vận của trung đoàn, nó vẫy bàn tay gầy guộc, gọi theo tôi trong đầm đìa nước mắt.

Bình Long tháng 8/2017 NTL

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn