Chuyện kể của người lính đặc công 'Má Sáu và những chuyện cảm động'
Chiến tranh biến con người thành sắt đá, nhưng chiến tranh cũng đầy ắp những tình người, che chở, đùm bọc. Ông Sơn đưa tôi xem những tập thơ, tập truyện ông viết về đời lính. Trầm ngâm mãi, ông nói: Kỷ niệm thì nhiều lắm, nhưng tôi nhớ nhất là gia đình má Sáu… Không có má, có đồng đội chắc tôi không còn sống để trở về.
Chiến tranh biến con người thành sắt đá, nhưng chiến tranh cũng đầy ắp những tình người, che chở, đùm bọc. Ông Sơn đưa tôi xem những tập thơ, tập truyện ông viết về đời lính. Trầm ngâm mãi, ông nói: Kỷ niệm thì nhiều lắm, nhưng tôi nhớ nhất là gia đình má Sáu… Không có má, có đồng đội chắc tôi không còn sống để trở về.
Vào đơn vị ông Sơn được tổ chức gửi nằm vùng ở gia đình má Sáu, Đức Hòa (Long An). Gia đình coi ông như con ruột. Má gọi ông là thằng Hai Trung - con thứ hai trong nhà (cũng là bí danh của ông). Ông coi má như mẹ và Tư Sữa cùng các em như em gái. Ngày ngày ông tới chợ Đức Hòa vào vai người bốc vác, sẩm tối mới về nhà. Lúc rảnh ông lại đi phát bờ, làm cỏ lúa và những lúc ấy ông cũng được mọi người dạy giọng Nam Bộ vì nhỡ ông để lộ giọng Bắc ra là chết chắc.
Nắm được tình hình, được má và các em hậu thuẫn, ông cùng đồng đội đã có những cách đánh táo bạo. Có bận tụi ông giả làm dân ăn nhậu rồi tiện thể nhân lúc địch không cảnh giác mà áp sát giết ngay lính gác cổng, dùng súng giảm thanh bắn chết lính trên chòi canh, rồi tiến vào giết địch.
Ngày ông tạm biệt gia đình để tiếp tục nhiệm vụ mới ở HC3 (hậu cứ), ai cũng bịn rịn, rưng rưng. Riêng má Sáu không khóc, chỉ nói: Thằng Hai ốm lắm, nhớ ăn nhiều còn có sức mà cầm súng.
Ngoài chuyện về má Sáu… thì về tình đồng đội ông Sơn cũng chẳng thể nguôi quên. Ngày 16-4, đơn vị ông cùng nhiều đơn vị đặc công khác sáp nhập thành Lữ đặc công Biệt động 316 (500 - 600 quân), hòa vào những đoàn quân như vũ bão tiến về Sài Gòn.
Đêm 29-4, ông bị thương ở cầu Rạch Chiếc, cửa ngõ phía Đông Sài Gòn khi ôm B40 bắn phá được mục tiêu. Lúc đó ông vừa bắn hạ vị trí có khẩu đại liên của địch, thì địch phản pháo, ông gục xuống bất tỉnh. Đồng đội đi yểm trợ tưởng ông chết, nhanh chóng rút lui.
Cũng may, không thấy bạn nên ông Thái đi tìm và gặp ông Sơn lúc vừa tỉnh lại. Đạn bắn rợp trời. Ông Sơn thều thào: “Mày ra đi, chết cả hai phí lắm!”. “Thái Nguyên còn tao với mày, chết thì cùng chết!”- ông Thái dứt khoát. Rồi ông cõng bạn ra ngoài, giao cho quân y mang về bệnh viện cứu chữa. Trên người ông Sơn găm 33 mạnh đạn, trong đó có 2 mảnh trong đầu. Gần 100 ngày mê man, ông Sơn mới tỉnh. Sau đó được đưa ra Bắc an dưỡng. Tháng 9/1976 ông ra quân với thương tật ¼, nhiễm chất độc da cam 71%.
Năm 1978, ông thăm gia đình má Sáu. Nhìn thấy ông ai cũng vui mừng. Riêng má như chết lặng, đôi mắt già đẫm lệ: “Trời phật ơi phải thằng Hai không đó! Mi vẫn còn sống hả con?”. Rồi má vừa rờ những vết thương của ông vừa khóc.
Trước khi ông tạm biệt gia đình. Má Sáu giữ ông: Thằng Hai ở lại đây lấy con Sáu Lặc - con gái thứ sáu của má mới hơn 20 tuổi, da trắng mịn, tháo vát. Ông Sơn phải nói khéo mãi, má mới đồng ý để ông đi...



