CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH GIÀ
Chiều hôm ấy, trong căn nhà nhỏ đơn sơ ở miền quê Vĩnh Long, cụ Nguyễn Văn Bảo ngồi lặng bên tách trà nóng. Mái tóc bạc trắng, đôi bàn tay gầy guộc run run theo tuổi tác, nhưng khi nhắc đến những năm tháng chiến tranh, ánh mắt cụ bỗng sáng lên như sống lại cả một thời tuổi trẻ.
Cụ kể rằng mình tham gia cách mạng từ năm 1961. Khi đó, cụ chỉ mới là một thanh niên ở vùng quê Trà Ôn, chứng kiến cảnh quê hương chìm trong bom đạn, người dân sống trong cảnh áp bức và bất công. Không đành lòng nhìn đất nước bị giày xéo, cụ quyết định theo cách mạng.
Ngày rời nhà đi kháng chiến, hành trang của chàng trai trẻ năm ấy chẳng có gì nhiều ngoài vài bộ quần áo cũ và niềm tin rằng đất nước nhất định sẽ được giải phóng.
Ban đầu, cụ hoạt động trong lực lượng du kích xã rồi làm nhiệm vụ ở lực lượng biên phòng địa phương. Sau này, do yêu cầu của chiến trường, cụ được điều động lên Địa không quân Trà Ôn suốt 18 tháng trước khi tiếp tục chuyển lên tỉnh rồi về Trung ương công tác trong Trung đoàn 306 và Trung đoàn 318.
Những năm tháng ấy, cụ cùng đồng đội đi qua khắp các vùng Trà Ôn, Tam Bình, Cầu Kè, Trà Vinh, Vĩnh Long để xây dựng căn cứ cách mạng và chiến đấu giải phóng quê hương.
Cụ nói, chiến tranh ngày đó cực khổ lắm.
Không chỉ là bom đạn mà còn là cái đói, cái rét và nỗi nhớ nhà da diết.
Có những lần đơn vị bị địch bao vây nhiều ngày liền, không ai tiếp tế được lương thực. Anh em phải ăn khoai mì để cầm hơi, có khi đi xin cơm nước của bà con nhân dân.
Nhắc đến vùng Dương Hải của Trà Vinh, giọng cụ chùng xuống. Đó là nơi đơn vị từng bị địch phong tỏa dữ dội. Mỹ và quân Sài Gòn không cho người dân mang gạo hay thức ăn tiếp tế cho cách mạng.
“Có lúc tụi tôi đói đến mức phải chẻ trái dừa đước ra húp nước,” cụ kể.
Một trái dừa khi ấy phải chia cho nhiều người. Anh em nhìn nhau giữa rừng sâu mà nước mắt cứ chực trào ra. Nhưng không ai bỏ cuộc.
Cụ nhớ mãi những đêm giữa rừng đước, cả đơn vị cùng siết tay nhau hô vang:
“Quyết thắng! Quyết thắng! Quyết hoàn thành nhiệm vụ!”
Tiếng hô ấy vang lên giữa bom đạn như tiếp thêm sức mạnh cho những người lính đang đứng giữa ranh giới của sự sống và cái chết.
Những năm 1967 – 1968 là giai đoạn ác liệt nhất. Quân địch tăng cường trực thăng, pháo kích và mở nhiều cuộc càn quét lớn nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng.
Trong khi đó, bộ đội ta thiếu đủ thứ. Vũ khí không nhiều, lương thực cạn kiệt, nhưng tinh thần chiến đấu thì chưa bao giờ lùi bước.
Cụ Nguyễn Văn Bảo lúc ấy là Trung đội trưởng. Đêm đêm, cụ dẫn anh em băng đồng, lội sình, bí mật tiếp cận các căn cứ địch.
Có người vừa đi hôm trước, hôm sau đã hy sinh.
Có đồng đội ngã xuống ngay bên cạnh mình nhưng không ai được phép dừng lại, bởi phía trước là nhiệm vụ giải phóng quê hương.
Cụ nói, điều giúp những người lính năm ấy vượt qua tất cả chính là lòng yêu nước và niềm tin vào ngày đất nước hòa bình.
Rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 cũng đến.
Nhắc đến thời khắc ấy, đôi mắt cụ đỏ hoe.
“Không ai ngủ được hết. Đồng bào với bộ đội ôm nhau khóc vì mừng,” cụ nghẹn ngào kể.
Khắp nơi cờ giải phóng tung bay. Người dân reo hò, chạy ra đường đón bộ đội. Sau bao nhiêu năm bom đạn, cuối cùng đất nước cũng được thống nhất.
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày hòa bình lập lại, nhưng ký ức về chiến tranh vẫn còn nguyên trong lòng người lính già.
Cuối câu chuyện, cụ Nguyễn Văn Bảo nhìn đàn cháu nhỏ đang vui đùa ngoài sân rồi nhẹ giọng nói:
“Các con, các cháu bây giờ được sống trong hòa bình thì phải biết quý trọng. Ngày xưa cha ông cực khổ lắm mới giữ được đất nước này.”
Lời kể mộc mạc của cụ không chỉ là câu chuyện về một đời người, mà còn là ký ức của cả một thế hệ đã dành trọn tuổi xuân cho độc lập dân tộc.



