Bài viết

CHUYỆN KỂ CỦA THƯƠNG BINH HOÀNG HỮU THẮNG

Trong một đợt điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Yên Bái, tình cờ trong phòng máy trị xạ của bệnh viện tôi thấy một người đàn ông cao, gầy, bước chân khập khiễng đi vào vị trí chiếu đèn hồng ngoại, thật bất ngờ khi bác sỹ kéo cao chiếc áo bệnh nhân của người đàn ông đang mặc; một tấm lưng chằng chịt hàng chục vết sẹo to, nhỏ hiện ra, như khẳng định đó là một con người ít nhất đã vài lần đối mặt với cái chết cận kề...Tôi được sắp xếp gần phòng điều trị của người đàn ông ấy, qua tìm hiểu,

Lào Cai05/12/2025Lại Tấn (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đúng hẹn, tôi đến gia đình ông tại phường Hợp Minh, thành phố Yên Bái, gặp ông cùng với Cựu chiến binh Phạm Văn Nga vừa hàng xóm, là người đồng đội nhập ngũ cùng ngày với ông Thắng cũng là thương binh hạng 1/4 trên chiến trường Trị Thiên Huế. Bên ấm tra mới pha, ông cởi mở hơn lần đầu mới gặp, ông kể cho tôi nghe những tháng ngày cầm súng đánh giặc đã gần 50 năm trôi qua.

Sinh ra và lớn lên tại xã Hợp Minh huyện Trấn Yên (nay là phường Hợp Minh thành phố Yên Bái), khi chưa tròn 18 tuổi, vừa tốt nghiệp cấp 3 phổ thông và thi vào đại học, với tinh thần “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” chàng thanh niên Hoàng Hữu Thắng đã viết đơn tình nguyện bằng máu xin nhập ngũ và nguyện vọng đó đã thành hiện thực. Ngày 19/6/1968 ông Thắng nhập ngũ, được biên chế vào Tiểu đoàn Yên Ninh 3, sau 2 tháng huấn luyện tân binh, ông nhận được giấy báo trúng tuyển Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Khi ấy cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả dân tộc đang bước vào giai đoạn cam go quyết liệt nhất, nhưng với tầm nhìn chiến lược cần đào tạo nguồn cán bộ khoa học kỹ thuật cho đất nước sau chiến tranh, Nhà nước vẫn có chính sách tạm hoãn nghĩa vụ cho những thanh niên đã trúng tuyển vào đại học. Được cấp trên động viên quay trở lại đi học đại học, nhưng ông vẫn quyết tâm thực hiện nguyện vọng của mình là được cầm súng, vào Nam chiến đấu, đánh đuổi đế quốc Mỹ, giải phóng đất nước, hẹn trở lại giảng đường Đại học sau ngày thống nhất non sông.

Sau 6 tháng huấn luyện, ngày 17/12/1968 Tiểu đoàn Yên Ninh 3 được lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam, ông được bổ sung vào Đại đội 1, tiểu đoàn 1, trung đoàn 6 thuộc Quân khu Trị- Thiên- Huế. Trận đánh đầu tiên vào tháng 3/1969, khi ấy ông là xạ thủ số 1 của khẩu đội cối 60mm cùng với một khẩu đội khác của đại đội, tập kích đồn Côcava (huyện A Lưới- Thừa Thiên), với 25 quả đạn, khẩu đội của ông đã góp phần tiêu diệt 16 tên lính thủy đánh bộ Mỹ. Trận tiếp theo vào tháng 6/1969, trong khi đi nhận lương thực, thực phẩm cho đơn vị ông cùng một đồng đội khi đi qua khu vực Dốc Chuối (A Lưới) hai người bất chợt phát hiện một tốp biệt kích Mỹ đang xâm nhập phía sau đội hình đơn vị đang chốt, hội ý nhanh 2 ông quyết định nổ súng trước, đợi địch đến gần các ông cùng xả đạn vào đội hình địch, bị đánh bất ngờ tốp biệt kích Mỹ la ó bắn loạn xạ, kéo những tên bị thương bỏ chạy, trong trận này riêng ông đã tiêu diệt tại chỗ 2 tên Mỹ, thu 2 súng tiểu liên cực nhanh AR15, 1 máy bộ đàm PRC 25 và 1 tập bản đồ. Trận đánh ngày 8/8/1970 tại cao điểm CoocBaSai (tên theo bản đồ Mỹ) cách sân bay Phú Bài hơn 10km, nơi tiểu đội chỉ có ba người do ông là tiểu đội trưởng đang bí mật chốt giữ. Vào khoảng 16h 30 ngày 8/8/1970, sau nhiều lần các tốp máy bay trực thăng do thám quần lượn tìm kiếm lực lượng của ta quanh khu vực sân bay, bất chợt một chiếc “cán gáo” (OH6) lượn vòng, hạ thấp độ cao xuống đúng vị trí hầm của ông đang chốt giữ, ông nhìn rõ tên giặc lái cùng 2 tên Mỹ lăm lăm súng máy và lựu đạn sẵn sàng xả đạn, quăng lựu đạn và nơi nào nghi vấn có quân ta; mặc dù có lệnh của trên tuyệt đối giữ bí mật trước trận tập kích hỏa lực của Trung đoàn vào vị trí phòng ngự của địch xung quanh sân bay, nhưng chiếc “cán gáo” lại cứ từ từ hạ xuống thẳng đứng, cách 20m, rồi khoảng 15m, sức gió từ cánh quạt của máy bay như một cơn lốc mạnh đã lật tung cành cây lá ngụy trang phía trước cửa hầm chữ A, tình huống bất ngờ bị lộ, không để địch hành động trước, ông nhằn thẳng máy bay địch kéo liền 4 loại AK.... Trúng đạn chiếc “cán gáo” chao đảo, phụt khói đen xì, lao xuống đất cách trận địa khoảng 50m; ông bật nhảy khỏi hầm, lao thẳng xuống vị trí máy bay rơi và bồi thêm 2 quả lựu đạn, chiếc máy bay bùng cháy…thấy đồng bọn bị bắn hạ, những chiếc “cá rô”, “cán gáo” quay lại bắn sối xả đạn AR15 và M79 vào chốt… một quả M79 nổ cạnh, ông trúng nhiều mảnh đạn cùng sức ép của quả đạn khiến ông choáng váng, đổ gục..., đồng đội ông vừa bắn trả tốp máy bay địch, vừa tìm cách kéo ông xuống hầm trú ẩn để băng bó vết thương cho ông. Kể đến đây, nhẹ nhàng ông vén áo chỉ cho chúng tôi xem những vết thương do mảnh M79 găm đầy lưng và hai bên sườn, ông kể tiếp: “Rất may tuy bị lộ điểm chốt, nhưng trận địa ĐKB của Trung đoàn ở hướng khác vẫn giữ được bí mật; đêm hôm đó đồng đội đưa tôi về tuyến sau cũng là đêm trận địa ĐKB cấp tập tấn công sân bay Phú Bài, nằm ở bệnh xá mà cứ lo bị kỷ luật vì nổ súng trước, không giữ được bí mật của đơn vị, nhưng trận đánh của cả Trung đoàn vẫn diễn ra đúng kế hoạch, gây cho địch thiệt hại nặng, trong trận này tôi đã bắn cháy 1 máy bay “cán gáo”, diệt 3 tên Mỹ và được tặng danh hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ và Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba”. Sau hơn 4 tháng điều trị tại Viện 68 quân khu, sức khỏe hồi phục, ông tiếp tục xin trở về đơn vị, đến ngày 26/5/1971 tại điểm cao A Tây Luật trên trục đường 12 (phía Tây Huế), địch sử dụng một đại đội lính ngụy Sài Gòn có biệt hiệu là “cọp sám” để chiếm điểm cao này, trung đội “thiếu” của ông Thắng với gần hai mươi tay súng đã bình tĩnh chờ địch vào trận địa rồi đồng loạt nổ súng, hạ gục hàng chục tên tại chỗ, đồng thời tổ chức xung phong đánh cận chiến bằng lưỡi lê và báng súng. Bị đánh bất ngờ đội hình địch rối loạn, vội vàng tháo chạy bỏ lại xác chết và những tên bị thương, trong trận này trung đội của ông đã tiêu diệt và bắt sống 18 tên địch, thu 2 súng M79 cùng hàng chục tiểu liên AR15. Sau khi rút chạy địch gọi pháo bắn vào trận địa, ông lại bị thương vào hông và đùi trái (mẻ xương hông) do mảnh pháo địch, lần này phải về viện tuyến sau điều trị mất hơn 5 tháng. Ra viện, trở lại đơn vị ông tiếp tục tham dự trận đánh chốt địch vào ngày 3/4/1972 tại điểm cao 300 (đồi Sơn A, đường 12), khi trận đánh đang diễn ra quyết liệt, chiến sỹ thông tin vô tuyến hy sinh, ông thay thế đeo máy thông tin K63 để tiếp tục giữ liên lạc, một loạt tiểu liên cực nhanh bắn về phía ông, đạn địch xuyên qua máy bộ đàm găm vào lưng, ông lại bị thương lần nữa, vết thương lần này có đầy sự “may mắn” khi viên đạn địch chỉ mới chạm đến đốt sống số 7 và “dừng lại” ở đó. Mới lành vết thương ông tiếp tục tham gia cùng đơn vị phối hợp với mặt trận Quảng Trị, vây ép địch ở Động Tranh (Bình Điền), tham gia vào tổ bắn tỉa, trong thời gian hơn một tháng riêng ông đã loại khỏi vòng chiến đấu 10 tên địch, cùng tiểu đội bắt sống 6 tên, buộc địch phải rút chạy khỏi căn cứ. Đến ngày 29/6/1972, pháo 105 ly của địch bắn vào trận địa, một lần nữa ông lại bị thương do mảnh pháo địch, lần này vết thương vào hõm nách trái khá nặng, đơn vị phải đưa ông ra Bắc cứu chữa. Sau 5 lần bị thương với hàng chục vết thương lớn, nhỏ, tỷ lệ thương tật sau giám định là 41%, ông phải xuất ngũ vào tháng 12/1974 với quân hàm Trung sỹ. Hơn 6 năm ở chiến trường cùng với hàng chục trận chiến đấu, ông đã được tặng danh hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ, cùng 2 Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng Nhì, hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba và 1 Huy chương Kháng chiến hạng Nhất.

Trở lại quê hương, với sức khỏe đã giảm sút từ những vết thương mang trên mình, cùng điều kiện hoàn cảnh gia đình, ước mơ trở về giảng đường đại học đành phải dang dở, ông xin chuyển ngành về công tác về Tòa án huyện Yên Bình (Yên Bái), sau đó về Tòa án nhân tỉnh rồi trở thành Thẩm phán, và nghỉ hưu năm 2008. Sau 6 năm chiến đấu và 30 năm tham gia công tác trong ngành Tòa án, ở vị trí nào với truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” Cựu chiến binh, thương binh Hoàng Hữu Thắng đều hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao và đã được thưởng nhiều Bằng khen, Giấy khen của ngành, của tỉnh vì có những thành tích xuất sắc trong công tác.

Chuyện ông kể cho chúng tôi nghe có gắn cả những tấm gương chiến đấu kiên cường và cả những mất mát hy sinh của những người đồng đội cùng ông trong những năm tháng khốc liệt nơi chiến trường Trị -Thiên- Huế, có những lúc giọng kể trùng xuống như tâm tư của riêng ông đối với những người đồng đội, có người đã cùng ông tham dự nhiều trận đánh, có người chia lửa cùng ông trong một trận đánh nhưng chưa kịp biết tên, họ đã anh dũng ngã xuống nơi trận địa mà chính mắt ông chứng kiến, rồi cả những người lăn xả vào lưới lửa kẻ thù để che đỡ cho ông, kéo ông trở về với sự sống khi ông bị trúng đạn, bị thương mà ông chỉ biết sự việc khi nghe đồng đội kể lại…Chiến tranh qua đi những trăn trở của ông về đồng đội vẫn còn đó “Đồng đội ơi! bạn đang yên nghỉ nơi nào?. Ân nhân của tôi, ở đâu, liệu rằng ân nhân có may mắn được như tôi không?, tôi vẫn mắc nợ với đồng đội mà chưa tìm được họ !...”. Gương mặt trầm tư, ánh mắt ông nhìn xa xăm về một miền ký ức của một thời binh lửa...

Chia tay Cựu chiến binh Hoàng Hữu Thắng và Phạm Văn Nga, được nghe những câu chuyện kể của những tháng ngày oanh liệt, gian khổ cùng những hy sinh mất mát đầy bi tráng mà các ông đã cùng trải qua, cả những trăn trở tri ân với những đồng đội trong cuộc sống đời thường ngày hôm nay. Chúng tôi thế hệ tiếp bước càng thêm hiểu, khâm phục và tự hào về thế hệ cha anh, thật bình dị mà thật cao cả đã không tiếc máu xương để viết thêm trang sử giữ nước hào hùng của cả dân tộc./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn