CHUYỆN KỂ CỦA THƯƠNG BINH PHẠM VĂN BẢY
Mỗi chiều cuối thu, bên hiên ngôi nhà nhỏ nằm ven cánh đồng lúa, ông Phạm Văn Bảy lại lặng lẽ ngồi nhìn về phía dãy núi xa mờ trong làn sương bạc. Trên ngực áo cũ bạc màu là tấm huân chương kháng chiến đã theo ông hơn nửa đời người. Mỗi khi đám trẻ trong xóm tụ tập quanh chiếc chõng tre để nghe kể chuyện, đôi mắt người thương binh già lại ánh lên những ký ức không thể nào quên về những năm tháng cùng tiểu đội chiến đấu chống thực dân Pháp. Ông Bảy nhập ngũ năm mười chín tuổi. Ngày ấy, quê ông nghèo lắm. Giặc Pháp thường xuyên càn quét, đốt nhà, cướp lúa. Nhiều người dân bị bắt đi phu, bị đánh đập giữa đình làng. Chứng kiến cảnh ấy, ông cùng nhiều thanh niên trong vùng xin tham gia du kích. Ngày lên đường, mẹ ông chỉ kịp dúi vào tay con trai nắm cơm độn khoai và chiếc khăn nâu đã sờn mép. – Con đi giữ làng, giữ nước thì mẹ yên lòng. Chỉ mong con còn sống trở về… Câu nói ấy theo ông suốt những năm tháng chiến tranh. Tiểu đội của ông Bảy gồm tám người, phần lớn đều là trai làng tuổi đôi mươi. Tiểu đội trưởng là anh Lâm – người từng tham gia nhiều trận đánh lớn ở Việt Bắc. Anh ít nói nhưng gan dạ và thương đồng đội như anh em ruột thịt. Những ngày đầu hành quân, cả tiểu đội sống trong rừng sâu. Ban ngày tránh máy bay trinh sát, ban đêm mới men theo đường núi để di chuyển. Cơm ăn chỉ có ngô, sắn và rau rừng. Có hôm đói quá, cả tiểu đội phải chia nhau từng củ chuối rừng non chát nghẹn. Đêm nằm giữa núi rừng lạnh buốt, nghe tiếng côn trùng rả rích, nhiều người nhớ nhà đến chảy nước mắt. Nhưng chẳng ai nói ra. Họ động viên nhau rằng chỉ cần đánh thắng giặc thì quê hương sẽ có ngày yên bình. Một lần, tiểu đội nhận nhiệm vụ phục kích đoàn xe tiếp tế của địch trên con đường độc đạo chạy qua đèo Khe Lau. Đó là nhiệm vụ rất nguy hiểm vì quân Pháp đi đông, có lính lê dương và súng máy yểm trợ. Chiều hôm ấy, trời mưa tầm tã. Cả tiểu đội nằm ém trong bụi cây ven đèo từ lúc chập tối. Bùn đất bám đầy quần áo, ai cũng rét run nhưng không ai dám cử động mạnh. Anh Lâm khẽ nói: – Dù có hy sinh cũng phải chặn được đoàn xe này. Đồng bào dưới xuôi đang chờ lương thực. Khoảng nửa đêm, tiếng động cơ xe quân sự vọng lại giữa màn mưa. Ánh đèn vàng quét loang loáng trên vách đá. Khi chiếc xe đầu tiên lọt vào trận địa, anh Lâm hô lớn: – Nổ súng! Tiếng súng vang dội cả núi rừng. Lựu đạn từ trên taluy ném xuống khiến chiếc xe đi đầu bốc cháy dữ dội. Quân Pháp hoảng loạn bắn trả như vãi đạn vào màn đêm. Ông Bảy lúc ấy ôm khẩu súng trường cũ, vừa bắn vừa bò sát xuống mép đường. Đạn xé gió rít bên tai. Một đồng đội tên Hòa bị trúng đạn vào vai nhưng vẫn nghiến răng tiếp tục chiến đấu. Trận đánh kéo dài gần một giờ. Cuối cùng, đoàn xe địch bị phá hủy, số còn lại tháo chạy tán loạn. Tiểu đội thu được nhiều lương thực và đạn dược rồi nhanh chóng rút vào rừng trước khi viện binh kéo tới. Đêm ấy, dù ai cũng mệt rã rời nhưng gương mặt đều ánh lên niềm vui chiến thắng. Sau trận phục kích ấy, tiểu đội của ông Bảy trở thành nỗi ám ảnh đối với quân địch trong vùng. Nhưng chiến tranh không chỉ có chiến thắng mà còn đầy mất mát. Mùa đông năm 1952, trong một trận chống càn lớn, tiểu đội bị quân Pháp bao vây ở khu rừng ven sông. Địch đông gấp nhiều lần, lại có pháo bắn yểm trợ. Khói lửa phủ kín cả cánh rừng. Anh Lâm bị thương ở chân nhưng vẫn bình tĩnh chỉ huy anh em chiến đấu. Khi địch áp sát, anh hô lớn: – Phải mở đường máu cho anh em rút! Rồi anh ôm khẩu tiểu liên lao lên chặn địch. Tiếng súng vang dồn dập. Ông Bảy kể rằng khoảnh khắc ấy đến giờ ông vẫn không quên. Giữa khói lửa mịt mù, bóng người tiểu đội trưởng hiện lên kiên cường như một thân cây giữa bão đạn. Nhờ sự hy sinh của anh Lâm, cả tiểu đội thoát khỏi vòng vây. Nhưng chính trong lúc rút lui, ông Bảy bị mảnh pháo găm vào chân trái. Máu chảy đầm đìa khiến ông ngất lịm giữa rừng. Khi tỉnh dậy, ông thấy mình đang nằm trong lán quân y. Bên ngoài, mưa rừng rơi lộp bộp trên mái lá. Người y tá trẻ khẽ nói: – Đồng đội cõng anh suốt đêm mới đưa được về đây. Ông lặng người khi biết anh Lâm đã hy sinh. Sau lần ấy, chân ông bị thương nặng, không thể tiếp tục ra trận như trước. Nhưng ông vẫn ở lại phục vụ kháng chiến, làm công tác liên lạc và vận chuyển lương thực cho bộ đội. Năm 1954, khi nghe tin chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội khắp núi rừng, ông và đồng đội ôm nhau khóc giữa sân đơn vị. Bao nhiêu máu xương cuối cùng cũng đổi lấy ngày độc lập. Nói đến đây, ông Bảy thường lặng đi rất lâu. Ông đưa bàn tay đã chai sần vuốt nhẹ tấm huân chương rồi nhìn đám trẻ trước mặt: – Các cháu sinh ra trong hòa bình phải nhớ rằng đất nước này được đổi bằng biết bao mạng người. Đồng đội của ông nhiều người mãi mãi nằm lại nơi rừng sâu, chưa một lần trở về quê mẹ… Ngoài sân, gió chiều thổi qua hàng tre xào xạc. Đám trẻ im lặng nghe người thương binh già kể chuyện. Trong đôi mắt đục mờ vì năm tháng của ông Phạm Văn Bảy vẫn còn nguyên ký ức về một thời kháng chiến gian khổ nhưng đầy lòng quả cảm của những người lính năm xưa.



