Chuyện kể thời kháng chiến chống Pháp
Chuyện kể thời kháng chiến chống Pháp
Tác giả: Hoàng Thị Phượng – PBT Đoàn xã Đông Thành
THÔNG TIN NHÂN VẬT
Họ và tên: Lê Văn Đức - sinh năm 1935
Đơn vị: Đại đoàn 304, thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Chức vụ trong khi tham gia chiến đấu : Tiểu đội trưởng
Tham gia chiến đấu: Trinh sát, phục kích, bảo vệ tuyến vận chuyển lương thực, đạn dược và trực tiếp chiến đấu tiêu diệt các cứ điểm của quân Pháp trong các chiến dịch ở Liên khu IV và sau đó tham gia chiến dịch Tây Bắc.
Hiện nay: Thương binh
"Người giữ ngọn đồi"
Tôi tên là Lê Văn Đức, sinh năm 1928 tại Nghệ An. Năm 1949, theo tiếng gọi của Tổ quốc, tôi tình nguyện nhập ngũ vào Đại đoàn 304, thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Khi ấy, tôi là Tiểu đội trưởng bộ binh của Đại đội 360, Trung đoàn 66. Nhiệm vụ của tiểu đội chúng tôi là trinh sát, phục kích, bảo vệ tuyến vận chuyển lương thực, đạn dược và trực tiếp chiến đấu tiêu diệt các cứ điểm của quân Pháp trong các chiến dịch ở Liên khu IV và sau đó tham gia chiến dịch Tây Bắc.
Những năm tháng ấy vô cùng gian khổ. Chúng tôi hành quân hàng chục cây số mỗi ngày, lương thực chỉ có cơm nắm với muối vừng, nước uống lấy từ khe suối. Ban ngày bám rừng tránh máy bay trinh sát, ban đêm mới hành quân. Quần áo rách vá chằng vá đụp, đôi dép cao su mòn đến mức nhìn rõ cả bàn chân, nhưng không ai nghĩ đến chuyện lùi bước.
Kỷ niệm tôi nhớ nhất là vào đầu năm 1954, trước khi diễn ra Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đơn vị tôi được giao nhiệm vụ đánh chiếm một ngọn đồi án ngữ con đường tiếp tế của địch. Nếu không làm chủ được ngọn đồi ấy, pháo binh của ta sẽ rất khó cơ động.
Đêm hôm đó, trời rét cắt da. Tiểu đội tôi lặng lẽ bò từng mét dưới hàng rào dây thép gai. Chỉ còn cách chiến hào địch vài chục mét thì một quả pháo sáng bùng lên, cả khoảng đồi sáng trắng như ban ngày.
Tiếng súng nổ dữ dội.
"Tất cả xung phong!"
Tôi hô lớn rồi cùng anh em lao lên.
Quân địch chống trả quyết liệt. Một đồng đội đi bên cạnh tôi trúng đạn ngã xuống. Tôi và hai chiến sĩ khác vừa bắn yểm trợ, vừa kéo anh vào hố cá nhân. Đúng lúc ấy, một mảnh đạn pháo găm mạnh vào chân trái của tôi. Cơn đau buốt đến tận óc, máu chảy ướt cả ống quần.
Y tá đơn vị định đưa tôi về tuyến sau, nhưng nhìn ngọn đồi vẫn còn khói lửa, tôi nắm chặt khẩu súng và nói:
"Đừng đưa tôi đi. Chỉ cần băng lại, tôi vẫn còn chiến đấu được."
Đồng đội dùng mảnh vải dù băng chặt vết thương. Tôi nghiến răng chịu đau, tiếp tục chỉ huy anh em đánh chiếm từng đoạn chiến hào.
Gần sáng, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh đồi. Tiếng hò reo vang khắp đơn vị. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau trong niềm vui chiến thắng. Nhưng nhìn quanh, nhiều đồng đội đã nằm lại mãi mãi trên sườn đồi ấy.
Sau trận đánh, tôi được đưa về quân y điều trị. Kết quả giám định cho thấy mảnh đạn đã làm tổn thương xương chân trái. Tôi được công nhận là thương binh và tiếp tục phục vụ trong quân đội cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.
Giờ đây, khi tuổi đã ngoài chín mươi, mỗi lần nhìn lá cờ Tổ quốc tung bay trong gió, tôi lại nhớ về những người đồng đội năm xưa. Họ đã gửi lại tuổi thanh xuân nơi chiến trường để thế hệ hôm nay được sống trong hòa bình.
Nhiều người hỏi tôi rằng điều gì đã giúp những người lính trẻ năm ấy vượt qua bom đạn. Tôi chỉ mỉm cười và trả lời:
"Chúng tôi không nghĩ mình là anh hùng. Chúng tôi chỉ nghĩ rằng phía sau lưng mình là Tổ quốc, là cha mẹ, là vợ con và hàng triệu người dân đang chờ ngày độc lập. Vì thế, dù có phải hy sinh, chúng tôi cũng quyết không lùi bước."
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết sẹo trên cơ thể tôi vẫn còn đó như một lời nhắc nhở về những năm tháng không thể nào quên. Là một người thương binh chống Pháp, tôi luôn mong thế hệ trẻ hôm nay biết trân trọng hòa bình, sống có trách nhiệm với quê hương, bởi độc lập, tự do của dân tộc đã được đánh đổi bằng biết bao máu xương của các thế hệ cha anh.


