CHUYỆN KỂ TỪ NGƯỜI TRỞ VỀ
Trở về từ chiến, người lính quân y năm xưa vẫn lặng lẽ tiếp tục sứ mệnh cứu người nơi đời thường tại quê nhà. Từ bom đạn đến phòng khám giản dị, ông dành trọn phần đời còn lại để chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Dẫu chiến tranh đã lùi xa, bệnh tật cuối cùng đã mang ông đi, nhưng tấm lòng người lính quân y – người lính ấy vẫn còn mãi trong ký ức và sự tri ân của những người được ông từng cứu chữa.
Trong dòng chảy lịch sử của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam chống lại quân Pôn-pốt xâm lược (1977-1979), bên cạnh những trận đánh oai hùng trên chiến trường, còn có một mặt trận thầm lặng nhưng không kém phần khốc liệt: mặt trận cứu chữa thương binh. Ở đó, những người lính quân y như ông Vũ Ngọc Nhàn – người lính trẻ tuy chỉ mới tốt nghiệp trung học phổ thông nhưng đã để trái tim nghe theo tiếng gọi của Tổ Quốc mà tham gia nhập ngũ vào năm 1975 - đã chiến đấu bằng y thuật, bằng lòng nhân ái, và bằng ý chí sắt đá để giành giật sự sống từ tay tử thần.
Mặt trận không tiếng súng, nhưng đầy thương đau
Năm 1978, trạm xá Quân khu 5 (Đà Nẵng) được dựng lên tạm bợ trong một khu rừng già gần biên giới. Đây là một điểm chốt chuyển thương quan trọng, nơi đây, dưới cái nóng thiêu đốt của mùa khô Tây Nam, mùi thuốc sát trùng, mùi máu và mùi mồ hôi hòa quyện thành một thứ không khí đặc quánh, khó quên. Chỉ có vài ba người lính quân y, lính canh gánh vác nhiệm vụ nơi tiền tuyến này: trong đó, có bác sĩ quân y Vũ Ngọc Nhàn và nhiều người lính dũng cảm, tài giỏi nữa.
Công việc hằng ngày của họ là một chuỗi dài những ca cấp cứu khẩn cấp với trang thiết bị thô sơ đến mức tối thiểu. Thuốc men khan hiếm, dụng cụ phẫu thuật được luộc sơ qua trong nồi cơm, bông băng giặt đi giặt lại đến sờn chỉ. Đèn dầu là nguồn sáng duy nhất cho những ca mổ ban đêm. Nhiều khi, thuốc gây mê không có, các bác sĩ buộc phải tiến hành phẫu thuật trong tiếng rên xiết của thương binh. Những ca sốt rét ác tính hoành hành khi mùa mưa đến còn là thử thách lớn hơn, khi nguồn thuốc đặc hiệu gần như cạn kiệt, buộc họ phải vào rừng tìm các loại cây cỏ để chế thuốc thô sơ.
Nhưng khó khăn lớn nhất không chỉ nằm ở điều kiện y tế. Trạm xá dã chiến luôn là mục tiêu ưu tiên của đối phương. Một lần chứng minh cho điều đó là đêm 12 tháng 3 năm 1978, khi một toán quân Pôn-pốt lạc hướng đã tiến sát đến vị trí của trạm. Trong đêm mưa tầm tã, với tám thương binh không có khả năng tự vệ, tình thế vô cùng nguy cấp. Người lính già cụ Bảy – ngươi kiêm nhiệm việc liên lạc và bảo vệ trạm xá, theo lời kể, cụ đã cầm lấy khẩu AK và lao ra ngoài để đánh lạc hướng, bảo vệ trạm xá. Một trận đụng độ ngắn nhưng ác liệt đã xảy ra. Cụ Bảy trở về với vết thương bụng nặng do đạn xuyên thấu.
Suốt đêm hôm đó, bác sĩ Nhàn và những người khác vừa vật lộn để cầm máu cho cụ Bảy trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, vừa phải đề cao cảnh giác, vừa tiếp tục chăm sóc cho các thương binh khác. Trước khi được đưa về tuyến sau, cụ Bảy chỉ kịp để lại lời nhắn nhủ: ‘’Nhiệm vụ của người lính quân y không chỉ là chữa vết thương, mà còn là thắp lên ngọn lửa sống, là đánh địch bằng chính lòng nhân đạo.’’ Lời dặn ấy, cùng với cuốn sổ tay cũ kĩ ghi đầy tên tuổi, quê quán của các thương binh cụ từng bảo vệ, đã trở thành di sản tinh thần vô giá cho những người ở lại.
Khi cuộc chiến kết thúc, Trạm xá Quân khu 5 đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình với con số ấn tượng: tiếp nhận và cứu chữa cho 327 thương binh, thực hiện 48 ca mổ khẩn cấp ngay tại chiến trường. Sự hy sinh của 22 thương binh trên đường vận chuyển là nỗi đau không nguôi, nhưng cũng là minh chứng cho sự khốc liệt của chiến tranh và những giới hạn mà con người phải đối mặt. Công sức mà những người lính quân y đã bỏ ra không thể hiện rõ qua máu thịt trên chiến trường, qua mùi của thuốc súng, vết thương từ bom đạn mà từ những ca phẫu thuật thành công cứu sống những sinh mạng, từ mồ hôi, nước mắt đã rơi vì đồng đội, vì hòa bình, vì Tổ Quốc suốt những năm tháng chiến tranh từ 1978 tới 1979.
Dấu chân anh hùng giữa đời sống làng quê
Đối với bác sĩ Vũ Ngọc Nhàn, trở về sau cuộc chiến, trên người không một vết thương chiến đấu, nhưng trong ký ức ông là đầy ắp những hình ảnh không thể phai mờ. Đó không chỉ là ký ức về sự mất mát, đau thương, mà còn là hình ảnh về tình đồng chí, về trách nhiệm thiêng liêng của người bác sĩ mặc áo lính, và về lời dặn "giữ lửa sống" của người đồng đội đã hy sinh. Chính lời dặn ấy đã thắp mãi cho ngọn lửa khát khao được cống hiến cho quê hương của người thiếu úy mãi không nguôi dù thời chiến đã qua.
Bằng kiến thức y khoa và tay nghề chuyên nghiệp của mình, ông trở về quê hương và tiếp tục công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân địa phương tại trạm xá nhỏ nơi quê nhà. Ông đã tham gia Hội Cựu chiến binh xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ suốt từ năm 1991 tới năm 2016; nhận huy chương danh giá Chiến sĩ vẻ vang Hạng ba từ Nhà nước và Kỉ niệm Chương của Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Năm 2016, người thiếu úy vẻ vang ấy không may lại ra đi vì bệnh tật, để lại bao tiếc thương cho gia đình và làng xóm nơi quê hương. Nhưng có lẽ, đối với ông, đó là một sự ra đi thanh thản. Bởi cuộc đời binh nghiệp của thiếu úy Vũ Ngọc Nhàn đã được đo đếm không phải bằng những huân chương lấp lánh, mà bằng những mạng sống được giữ lại, bằng những ánh mắt biết ơn đã khỏi bệnh, bằng những người lính một thời được ông chăm sóc nay còn sống để kể lại cho con cháu về một cựu chiến binh có tấm lòng nhân ái, sự kiên cường, dũng cảm mà âm thầm cống hiến cho quê hương, Tổ quốc.


