Cựu chiến binh

Chuyện kể về cựu chiến binh Nguyễn Văn Huân

Lâm Đồng03/08/2026Dương Thị Bình (Đơn Dương)27 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chuyện kể về cựu chiến binh Nguyễn Văn Huân

Có những cuộc đời không cần đến những chiến công được kể đi kể lại để trở nên lớn lao.

Có những con người sống lặng lẽ như một gốc cây già giữa làng quê. Họ ít nói về mình, càng không thích nhắc đến những tháng năm gian khổ đã đi qua. Nhưng chỉ cần mở lại những trang hồ sơ đã úa màu thời gian, người ta sẽ bắt gặp cả một chặng đường dài gắn với những biến cố lớn của dân tộc.

Bác Nguyễn Văn Huân, sinh năm 1943, hiện sống tại thôn Lạc Thạnh, xã Tu Tra, là một con người như thế.

Cuộc đời bác trải dài qua hai cuộc chiến tranh, rồi tiếp tục nối dài trong những năm tháng dựng xây quê hương. Nếu tuổi trẻ của bác thuộc về chiến trường thì tuổi trung niên lại thuộc về nhân dân. Hai hành trình tưởng như khác nhau, nhưng đều bắt đầu từ một lời hứa giản dị: sống trọn đời vì Tổ quốc.

Năm 1965. Đất nước còn chia cắt. Miền Nam vẫn chìm trong khói lửa. Khắp các làng quê, tiếng loa gọi thanh niên nhập ngũ vang lên mỗi ngày. Những chàng trai vừa rời mái trường, vừa rời cánh đồng, đã khoác ba lô lên đường mà không biết ngày trở lại.

Tháng Hai năm ấy, người thanh niên Nguyễn Văn Huân cũng bước vào hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam. Bác khi ấy mới ngoài hai mươi tuổi. Đó là tuổi của những ước mơ. Là tuổi đáng lẽ được xây dựng hạnh phúc riêng. Nhưng cũng là tuổi mà cả một thế hệ đã chọn gửi lại thanh xuân nơi chiến trường. Không ai hỏi mình sẽ được gì. Chỉ hỏi đất nước đang cần gì.

Từ những ngày đầu quân ngũ, bác được rèn luyện trong môi trường kỷ luật nghiêm ngặt của quân đội. Người lính trẻ học cách hành quân xuyên rừng, học cách vượt núi, học cách chịu đựng thiếu thốn và hơn hết là học cách đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên sự an nguy của bản thân. Chiến tranh không cho phép con người trưởng thành chậm rãi. Bom đạn đã tôi luyện nên những người lính.

Những năm sau đó, bác được giao nhiều trọng trách hơn. Đến năm 1972, bác là Trung úy, Chính trị viên, Bí thư Chi bộ Đại đội C4, Trung đoàn E572, Quân khu 5. Đó là giai đoạn chiến trường Quân khu 5 bước vào những năm tháng ác liệt nhất.

Những cánh rừng Trường Sơn ngày ấy không chỉ rung chuyển bởi bom đạn. Thiên nhiên cũng trở thành một thử thách khắc nghiệt đối với người lính. Những cuộc hành quân nối tiếp nhau qua núi cao, rừng sâu, dưới những trận mưa rừng kéo dài, trong điều kiện thiếu thốn đủ bề. Có những thời điểm việc tiếp tế gặp nhiều khó khăn, mỗi bữa cơm đều phải chắt chiu từng hạt gạo, từng ngụm nước.

Bom đạn có thể nhìn thấy. Nhưng bệnh tật thì âm thầm hơn. Sốt rét rừng trở thành nỗi ám ảnh của biết bao đơn vị. Có những người lính vừa gượng dậy sau cơn sốt đã lại khoác ba lô lên vai. Có người mãi mãi không thể đứng dậy.

Là Chính trị viên, bác Huân không chỉ chia sẻ mọi gian khổ với đồng đội mà còn mang trên vai trách nhiệm giữ vững niềm tin cho cả đơn vị. Giữa rừng sâu, khi cái chết có thể đến từ một trận bom, một viên đạn hay một cơn bạo bệnh, lời động viên của người cán bộ chính trị nhiều khi quý giá chẳng khác nào một liều thuốc tinh thần. Chính trong những năm tháng ấy, phẩm chất của người lính cách mạng được tôi luyện không chỉ bằng lòng dũng cảm, mà còn bằng sự kiên cường trước mọi gian nan.

Ba năm, từ 1972 đến 1975, bác cùng đơn vị chiến đấu trên chiến trường Quân khu 5. Mỗi trận đánh đều là một lần thử thách. Mỗi chiến thắng đều phải đánh đổi bằng máu. Có những người đồng đội sáng còn cùng nhau hành quân, tối đã nằm lại giữa núi rừng. Có những lá thư chưa kịp gửi. Có những lời hẹn ngày trở về mãi mãi dang dở. Chiến tranh vốn là như vậy. Nó không chỉ lấy đi tuổi trẻ. Nó còn để lại trong ký ức người còn sống những khoảng trống không gì bù đắp được. Có lẽ vì thế mà nhiều cựu chiến binh sau này rất ít khi kể về chiến công của mình. Điều họ nhớ nhiều nhất luôn là đồng đội.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước thống nhất. Tiếng súng trên dải đất hình chữ S đã lặng. Nhưng với những người lính như bác Huân, hành trình vẫn chưa kết thúc. Biên giới Tây Nam lại dậy sóng. Nhân dân Campuchia đang chìm trong thảm họa diệt chủng. Một lần nữa, người lính ấy lại lên đường.

Từ 1976 đến 1978, bác giữ cương vị Thượng úy, Bí thư Đảng ủy, Chính trị viên Tiểu đoàn 2, Trung đoàn E572, Quân khu 5, trực tiếp tham gia chiến đấu trên mặt trận biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia.

Chiến trường lần này mang một diện mạo khác. Những cuộc hành quân kéo dài giữa vùng đất khô nóng, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, nguồn nước khan hiếm và hiểm họa từ mìn, vật cản hay những cuộc tập kích bất ngờ luôn rình rập người lính.

Là người chỉ huy về chính trị, bác không chỉ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ mà còn là chỗ dựa tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Sau mỗi trận đánh là niềm vui của người còn sống. Nhưng cũng là nỗi đau khi phải tiễn biệt những đồng đội không còn trở về. Chiến tranh không cho phép người lính gục ngã trước mất mát.

Bởi họ hiểu rằng phía sau mình là Tổ quốc.

Tháng Ba năm 1978, Người lính Nguyễn Văn Huân rời chiến trường. Không phải để nghỉ ngơi. Mà để bước vào một mặt trận khác. Mặt trận xây dựng quê hương.

Bác được điều động về công tác tại Ban Tổ chức Huyện ủy Đơn Dương. Từ 1979 đến 1980, bác giữ chức Trưởng phòng Tổ chức cán bộ huyện Đơn Dương. Sau đó, từ 1981 đến 1983, bác được tín nhiệm bầu làm Bí thư xã Tu Tra.

Đó là những năm đầu sau chiến tranh. Quê hương còn nghèo. Đường sá còn khó khăn. Đời sống người dân còn nhiều thiếu thốn. Nếu chiến trường cần lòng quả cảm thì thời bình lại cần sự nhẫn nại. Nếu ngày trước phải đối mặt với bom đạn thì hôm nay phải đối mặt với những bộn bề của công cuộc tái thiết. Người lính năm nào cất khẩu súng vào ký ức. Đổi ba lô lấy tập hồ sơ. Đổi chiến hào thành những con đường làng. Đổi mệnh lệnh hành quân thành những cuộc họp với nhân dân. Nhưng có một điều không hề thay đổi. Đó là tinh thần trách nhiệm.

Ở cương vị nào, bác cũng tận tụy với công việc, gần gũi với nhân dân và luôn giữ tác phong mẫu mực của người cán bộ, người đảng viên.

Có lần, tôi lật từng trang hồ sơ công tác của bác. Những dòng chữ ngắn gọn chỉ ghi thời gian, đơn vị và chức vụ. Thoạt nhìn, đó chỉ là những mốc thời gian khô khan. Nhưng phía sau mỗi dòng chữ ấy là cả một quãng đời. Là những năm tháng tuổi trẻ gửi lại nơi chiến trường. Là những cuộc hành quân không biết ngày về. Là những đồng đội đã nằm lại. Là những ngày hòa bình bắt đầu bằng biết bao gian khó.

Không có dòng nào trong hồ sơ ghi rằng bác đã từng chịu bao nhiêu gian khổ. Không có dòng nào kể bác đã bao lần đối diện với hiểm nguy. Nhưng chính sự im lặng ấy lại khiến người đọc xúc động hơn tất cả. Bởi lịch sử không chỉ được viết bằng những chiến công hiển hách. Lịch sử còn được viết bằng những con người bình dị.

Hôm nay, khi đã bước qua tuổi tám mươi, bác Nguyễn Văn Huân vẫn giữ phong thái điềm đạm của người lính năm nào. Thời gian đã làm mái tóc bạc đi. Đã hằn thêm những nếp nhăn trên gương mặt. Nhưng không thể làm phai nhạt lý tưởng đã theo bác suốt cuộc đời.

Tôi chợt nghĩ, có lẽ điều đáng quý nhất của một con người không nằm ở việc họ đã giữ bao nhiêu chức vụ, nhận bao nhiêu phần thưởng. Mà là họ đã sống như thế nào. Với bác Nguyễn Văn Huân, câu trả lời nằm trong chính cuộc đời bác. Một cuộc đời gần như không có khoảng lặng cho riêng mình. Tuổi trẻ cống hiến cho chiến tranh. Tuổi trưởng thành cống hiến cho quê hương. Và khi đã nghỉ công tác, bác vẫn trở thành một nhân chứng sống, nhắc nhở thế hệ hôm nay về cái giá của hòa bình.

Có những ngọn lửa bùng cháy dữ dội rồi tắt. Nhưng cũng có những ngọn lửa âm thầm cháy suốt một đời người. Ngọn lửa trong trái tim người lính Nguyễn Văn Huân là ngọn lửa như thế. Nó được thắp lên từ ngày bác khoác áo lính năm 1965. Được nuôi dưỡng qua những năm tháng chiến tranh ác liệt. Được tiếp nối bằng những năm tháng tận tụy với quê hương sau ngày đất nước thống nhất. Và đến hôm nay, ngọn lửa ấy vẫn âm thầm soi sáng cho thế hệ trẻ bằng chính tấm gương của một con người đã sống trọn vẹn với lời thề của người chiến sĩ cách mạng.

Để mỗi lần nhìn lại “thời hoa lửa”, chúng ta không chỉ nhớ đến những trận đánh oanh liệt, mà còn nhớ đến những con người bình dị như bác Nguyễn Văn Huân – những người đã viết nên lịch sử bằng cả tuổi trẻ, lòng trung thành và một cuộc đời không bao giờ ngừng cống hiến.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn