CHUYỆN KỂ VỀ NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI LIỆT SỸ PHẠM VĂN QUANG (PHẠM TẤN QUANG)
CHUYỆN KỂ VỀ NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI
LIỆT SỸ PHẠM VĂN QUANG (PHẠM TẤN QUANG)
“Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa, thì tôi xung phong làm người lính đi đầu”. Đó cũng là niềm vui, niềm tự hào của người chiến sỹ Trinh sát năm nào!
Để chuẩn bị cho cuộc “Tổng tấn công nổi dậy xuân Mậu Thuân (1968). Hòa Vang chia tách thành 3 khu (Khu I – Cánh Bắc. Khu II – Cánh Trung. Khu III – Cánh Đông). Khu II điều động một số đồng chí Đại đội 2 về Ban Trinh sát, chiến dịch gồm các đơn vị ( Khu II, E31, D Đặc công Lam Sơn - Thanh Hóa, Đoàn Pháo Binh 575), 06 đồng chí (Phạm Tấn Quang, Trần Thanh Bình, Đinh Văn Huy, Trần Giáo, Lâm Quang Vinh, Lê Ba). Là những chiến sỹ đi trước về sau. Đi trước chiến dịch đi trước 10 ngày, về sau chiến dịch từ 15 ngày đến cả tháng, có khi ở lại chuẩn bị chiến trường cho n hững trận đánh tiếp theo.
Trong chiến dịch Mậu Thân (1968- X1) Anh được tham gia tác chiến cùng C25, E31 tập kích Trung tâm thông tin Ra Đa Phước Tường cắt đứt liên lạc của quân Mỹ tại Đà Nẵng với Hạm đội 7 ngoài khơi Biển Đông. Tôi đi cùng D9, E31 đánh chiếm Quận Lỵ Hòa Vang, Chi khu Cảnh sát, nhà máy dệt Si Cô Vi Na (Hòa Thọ). Tuy không cùng trận đánh, nhưng có cùng một đặc điểm chung là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, và rồi!Người Trinh sát gặp nhau chưa lau khô những giọt mồ hôi trên trán lại nhận nhiệm vụ cho những trận đánh tiếp theo (Hè – Thu 1968 – X2) cùng Đại đội 2 và Du kích các xã (Hòa Lợi, Hòa Hưng, Hòa Lương…..), chống càn quét, cày ũi, xúc tác, dồn dân thực hiện mưu đồ. “Tát nước, bắt cá của Mỹ, ngụy”, 18 ngày đêm ròng rã. Khu Đội 2 Chỉ thị cho Trinh sát (Bình, Quang, Giáo). Trinh sát thực địa Đồn 10. Nơi tổ chức hành quân càn quét. Đồn 10 là một cứ điểm liên hoàn nhiều đồn bót. Kiên cố bảo vệ trung tâm Huấn luyện Hòa Cầm và nơi đón tiếp các tướng lĩnh Mỹ, ngụy đến các chỉ huy các cuộc hành quân. Công tác chuẩn bị chiến trường chu đáo. Trinh sát cùng chỉ huy Đại đội 2 (đồng chí Lê Đình Ngữ) đắp sa bàn tác chiến, xin lệnh chỉ huy khu Đội 2 (Đồng chí Phùng Xuân Thành). Nhận lệnh đêm ngày 10 rạng sáng ngày 11 tháng 8 năm 1968 đánh tiêu diệt khu trung tâm chỉ huy có 02 Trung đội Mỹ, 01 Trung đội ngụy và hàng trăm cảnh sát dã chiến, có cả bọn chiêu hồi chỉ điểm và cũng là ngày kết thúc chiến dịch (Hè Thu 1968- X2).
Chúng tôi mãi không quên trận đánh “Mỹ cõng”, Cấm đình - Đồng Nghệ do anh (Quang) đề xuất theo dõi nhiều ngày đến chiều ngày 09 tháng 11 năm 1968 phát hiện Tiểu đội Mỹ từ Dương Mẹo lên gò Lành Ngạnh trời mưa, 02 tên trùm một áo mưa di chuyển lên Cấm đình – Đồng Nghệ. Trận đánh cũng diễn ra của 05 Trinh sát (Quang, Bình, Long, Nhật, Thìn). Dùng mìn định hướng, bố trí đội hình tác chiến theo hình chữ an pha để Mỹ lọt vào đội hình ta bấm mìn, nổ súng, tiêu diệt Tiểu đội Mỹ cõng 12 tên. Thìn xông lên thu vũ khí thì bị 1 tên Mỹ bị thương bắn hy sinh, anh Quang đã tiêu diệt chúng và lui quân.
Năm 1969 là một năm vô cùng ác liệt. Mỹ, ngụy càn quét, cày ũi, dồn dân làng quê trơ trọi, cắt đứt hậu cứ với đồng bằng; hậu phương Miền Bắc với chiến trường Miền Nam. Bộ đội, Du kích ngày ở dưới lòng đất, đêm lên đánh giặc. Đêm 20/3/1969 Đại đội 2 có 05 đồng chí và 02 Trinh sát (Bình, Quang). Tập kích 01 Tiểu đội (Mỹ lết) ở đình La Châu – Hòa Lương (Mỹ lết – Mỹ cơ động) tiêu diệt gọn 15 tên, thu toàn bộ vũ khí. Đây cũng là trận đánh cuối cùng của 02 đồng chí. Anh về làm cán bộ Trung đội, Đại đội 2. Tôi về Phân đội Đặc Công đặc biệt (Đặc nhiệm). Ngày 16 tháng 9 năm 1969 do tên HNH(S) xạ thủ B40, chiêu hồi chỉ hầm “Bí mật”. Nhưng với bản lĩnh của người chiến sỹ Trinh sát kiên cường, anh xông lên 01 mình, 01 súng tiêu diệt hàng chục lính Mỹ, tên H chiêu hồi chỉ bị thương không chết, chiến đấu kiên cường diệt hàng chục Mỹ, ngụy. Anh ngã xuống và ngũ yên trong lòng đất mẹ như một thiên thần, trọn vẹn 21 mùa xuân (1948-1969). Tên anh luôn gắn liền với chiến công của Đại đội 2, Khu II, Hòa Vanh anh hùng.
À ! Bình sẽ kể cho Quang nge một câu chuyện là dịp vào tháng 10 năm 2010 về dự kỷ miệm 50 năm ngày thành lập Tiểu đoàn Đặc công Lam Sơn – Thanh Hóa (tại thành phố Thanh Hóa), gặp Long, Nhật rồi và về quê đám giỗ Thìn – Sự thật là Thìn giỗ Thìn “Giỗ mình”. Vì Thìn không hy sinh mà địch đưa về Quân đoàn I cưa chân và đưa ra trại tù binh Phú Quốc. Sau hiệp định Pari trao trả tù binh và xuất ngũ về quê (Hưng Hà –Thái Bình). Thìn rất yêu đời và lạc quan và đã có vợ, con. Hằng năm tự “Giỗ mình”, mời đồng đội đến chung vui “Người không chết”.
Là người lính còn lại sau chiến tranh, luôn học tập anh – Người chiến sỹ Trinh sát kiên cường, người chỉ huy Trung đội luôn chăm lo cho đồng đội và chỉ có nguyện ước có một ngày bình yên về thăm mẹ và các em. Ngày ấy không đến với anh ! Nên ngày quê hương Hòa Vang giải phóng (28/3/1975). Tôi về thăm mẹ (bà Nguyễn Thị Qúa), động viên an ủi mẹ cho đến cuối cuộc đời và luôn coi mẹ như người mẹ đã sinh ra mình. Đời sống kinh tế bây giờ chúng ta có thể bỏ tiền ra mua một chiếc đồng hồ tốt nhất có thể chính xác đến từng phút, từng giây. Nhưng không thể mua được thời gian còn lại cuộc đời! Tôi chỉ có thể làm được những việc mình đã làm. Chào anh! Người bạn tôi yêu.
Hòa Phong, ngày 13 tháng 03 năm 2025
Người kể
Trần Thanh Bình



