Chuyện khóc cười của người thương binh đã mai táng liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc
TP - Trở về sau những trận đánh đẫm máu ở Thành cổ Quảng Trị, đã 35 năm rồi anh sống trong mặc cảm, thiếu tự tin và cũng từng ấy năm anh phải âm thầm chịu đựng. Anh là một thương binh, nhưng không ai có thể xếp hạng chính xác được thương tật đó...
Tôi tới thăm vợ chồng chị Đinh Thị Vui - Giáo viên trường THPT chuyên Lương Văn Tụy (Ninh Bình) vào một sáng Chủ nhật. Anh Nguyễn Văn Hà chồng chị, đã ra tận quốc lộ để đón.
Đó là một người đàn ông dáng cao gầy, da trắng xanh, mái tóc đen cắt ngắn, gương mặt khắc khổ, như lúc nào cũng buồn phiền và thiếu tự tin.
- Mời anh vào nhà chơi. Vợ tôi có chút việc bận trên trường, cũng sắp về rồi – Anh Hà ân cần mời khách và giải thích – Nhà chỉ có hai vợ chồng, các cháu đã lớn đang đi học xa, vắng vẻ lắm...
Sau chén trà nóng, vốn cùng là cựu chiến binh, nên rất dễ đồng cảm và cởi mở trong câu chuyện. Tôi giải thích ngắn gọn mục đích chuyến viếng thăm nhà và công việc mình đang làm. Anh Hà xua tay, rồi trầm ngâm:
- Giờ anh đã nhiệt tình tìm về tận đây, thì tôi cũng xin tâm sự hết lòng mình, chẳng muốn giấu nữa. Và cũng xin được nói ngay: Tôi kể chuyện này không phải chỉ cho riêng tôi, mà còn nói hộ bao người khác có hoàn cảnh như mình...
Tôi biết Nguyễn Văn Thạc như thế…
Tôi sinh năm 1953 ở xã Hợp Hưng (Vụ Bản, Nam Định). Cha mẹ tôi sinh được 6 chị em, nhưng chỉ có tôi là con trai duy nhất. Gia đình đều làm ruộng ở quê, nên theo truyền thống từ bao đời, các cụ rất muốn tôi lấy vợ sớm, sinh cháu để có người nối dõi. Nhưng vừa tròn 18 tuổi, như bao bạn bè cùng trang lứa, tôi đã lấy máu viết đơn xung phong đi bộ đội ngày 22/8/1971.
Sau khi kết thúc huấn luyện tân binh ở Thạch Thành (Thanh Hóa), tôi được điều về Sư đoàn 325, bổ sung quân cho Trung đội Thông tin của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 101, đóng quân ở Chí Linh (Hải Dương). Cũng tại đây, tôi đã biết Nguyễn Văn Thạc. Hồi đó, tôi ở tiểu đội hữu tuyến, còn Thạc ở tiểu đội vô tuyến.
Trong rừng bạch đàn, lán đóng quân của tôi và Thạc chỉ cách nhau khoảng 10 mét, nên chúng tôi thường xuyên sang chơi thăm nhau. Mấy anh lính Hà Nội, ai cũng thông minh, nghịch ngợm, nên thường gây ấn tượng và rất dễ nhớ.
Tháng 4/1972, chúng tôi cùng lên tàu, hành quân vào chiến trường. Khi tàu tới ga Quán Hành, chưa tới thành phố Vinh, thì đường phía trước bị hỏng, do máy bay Mỹ vừa ném bom, tất cả phải xuống hành quân bộ. Trên vai mỗi anh lính chúng tôi lúc đó đeo ít nhất cũng khoảng trên 30 kg. Người nào cũng ba lô chằng buộc căng phồng, lại còn 7 kg gạo, đường, sữa tiêu chuẩn...
Tôi còn nhớ là Thạc và Y chung nhau một máy thông tin 2W, 1 khẩu súng AK và 4 băng đạn. (Riêng cái máy thông tin đã nặng 21 kg, không kể ắc quy dự phòng, Thạc khoẻ hơn, nên thường vác hộ cho Y). Còn lính thông tin hữu tuyến như tôi, ngoài ba lô tư trang, thì người nào cũng phải đeo thêm máy điện thoại và 2 cuộn dây nặng khoảng 15 kg...
Vậy mà chúng tôi đã hành quân bộ mấy trăm cây số, vừa chuyển quân, vừa tranh thủ luyện tập. Sau khi vượt qua Đèo Ngang, chúng tôi đã phải đi xuyên rừng miền Tây Quảng Bình...
Đầu tháng 6/1972, chúng tôi qua Đồng Lộc. (Đây cũng là thời điểm Nguyễn Văn Thạc ghi chép những dòng cuối cùng của cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi nổi tiếng sau này). Chúng tôi vào đến thị xã Đông Hà ngày 10/7/1972. Đơn vị được nghỉ một tuần để củng cố, muốn có gạo ăn phải đi bộ gần 2 tiếng đồng hồ mới lấy được ở Kho Đường 9.
Đêm 29, rạng sáng ngày 30/7/1972, cả Tiểu đoàn chúng tôi được lệnh từ Triệu Phong vượt sông Ba Lòng để vào Thành Cổ. Tôi nhớ, vì trời mới mưa xong, nên mặt sông rất rộng và nước chảy xiết. Bộ đội vượt sông trong lúc máy bay địch vẫn bay lượn, gầm rú trên không, và pháo của chúng từ các nơi vẫn liên tục bắn vu vơ vào trận địa của ta...
Thạc đã hy sinh, còn tôi bị thương cùng một ngày
|
Gia đình anh Hà, chị Vui xuân Đinh Hợi |
Khoảng 8 – 9 giờ sáng, Thạc, Y, và tôi nhận được lệnh xuống Đại đội 1 (xa khoảng 1 cây số) phục vụ chiến đấu. Tôi vừa nghe tiếng Thạc và Y gọi tên mình để cùng đi, nhưng chưa kịp lên khỏi hầm chữ A, thì một loạt đạn pháo của địch chụp xuống. Trận pháo kích ấy kéo dài khoảng 15 phút, khói lửa khét lẹt, tai ù đặc... Mãi sau, có tiếng ai đó kêu lên thất thanh: “Thằng Y và thằng Thạc bị rồi!”.
Khi tôi tới nơi thì anh em đã khênh Thạc và Y vào hầm. Y bị mảnh pháo cắt đứt một cánh tay, còn Thạc thì bị gãy nát một bên đùi. Máu ra nhiều lắm. Quân y chưa kịp đến, tất cả cứ cuống cả lên với việc garô, băng bó cho thương binh...
Thạc rất tỉnh. Mà tỉnh như thế là nguy hiểm, dễ chết lắm. Đồng đội định khênh Thạc về tuyến sau, nhưng không kịp nữa rồi. Anh thều thào nói với người đang cấp cứu mình vài câu gì đó, nghe không rõ, rồi tắt thở.
Mặc dù đã nhiều lần chứng kiến đồng đội bị thương vong, nhưng trường hợp của Thạc và Y vẫn khiến tôi bàng hoàng. Nguyễn Văn Thạc là chiến sĩ đầu tiên của B Thông tin hy sinh. Chính tôi và anh Tuyến - A trưởng của Thạc-đã cùng vuốt mắt cho Thạc. Chúng tôi đã khóc rất nhiều. Buổi trưa ấy, nhiều anh em buồn quá, bỏ cả bữa ăn.
Đầu giờ chiều, tôi nhận được lệnh cùng một chiến sĩ mới được bổ sung về đơn vị đi mai táng liệt sĩ. Chúng tôi cẩn thận gói thi hài Thạc trong một tấm tăng ni-lông, cuốn nhiều vòng dây dù xung quanh, rồi khênh ra khỏi hầm chữ A.
Định đi xa một chút, tìm chỗ cao ráo, nhưng pháo địch bắn quá rát. Nên khênh được khoảng hơn trăm mét, thì tới một khu vườn trồng mấy cây mít, cạnh một rặng tre, thấy có hai ngôi mộ mới, chúng tôi quyết định dừng lại để mai táng Thạc tại đó.
Chúng tôi đã đào huyệt rất khó khăn và vất vả. Bởi đất cứng, lại chỉ có xẻng, cuốc quân dụng cá nhân loại nhỏ, nên phải mất hàng tiếng đồng hồ mới xong, hố huyệt không sâu lắm. Vừa đào, chúng tôi còn phải tránh pháo địch bắn liên hồi, mảnh đạn rít veo véo trên đầu...
Khi nấm mộ đã hình thành, sắp dựng bia, thì lại thêm một loạt đạn pháo nổ quanh chỗ chúng tôi. Bỗng tôi thấy lạnh buốt dưới đùi phải và háng, đầu óc choáng váng, nhìn xuống đã thấy máu đỏ tươi ướt đẫm hai ống quần. Tôi gục xuống. Khi tỉnh dậy, thấy mình đã nằm trong căn hầm chữ A, cạnh anh Y, đúng nơi đã đặt thi hài của Thạc trước đó.
(Y tá Đỗ Minh Quang, người đã băng bó vết thương cho tôi ngày ấy, hiện là Đại tá, bác sĩ Chủ nhiệm khoa của Viện Quân y 354 Quân đội, cũng vừa cùng ông Nguyễn Văn Thục, anh trai của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, đến thăm gia đình tôi ở Ninh Bình).
Tối hôm ấy, đơn vị định chuyển thương binh về tuyến sau ngay, nhưng pháo địch bắn nhiều quá, không đi được. Phải đợi gần sáng, anh em mới khiêng chúng tôi ra được tới Cửa Việt. Mấy ngày sau, chúng tôi được nằm ca nô ra Vĩnh Linh, đi tiếp ra Quảng Bình, rồi Nghệ An... điều trị vết thương ở Quân y viện 4. Cuối năm đó, tôi về an dưỡng ở Phủ Lý.
Tháng 10/1973, tôi được chuyển ngành, đi học Trung cấp Tài chính ở Hải Dương. Tháng 9/1976, tôi về công tác ở Phòng Tài chính huyện Gia Khánh (nay là Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình. Và công tác liên tục ở cơ quan huyện này từ đó cho đến nay.
Nhưng nếu chuyện chỉ có vậy, thì cũng chưa có gì đáng nói. Tôi cũng không muốn anh viết lại làm gì, kẻo lại mang tiếng là mình đã “ăn theo”...
Bi kịch đến từ đêm tân hôn…
Năm 1984, tôi xây dựng gia đình với một nữ nhân viên của cơ quan huyện. Vợ tôi là một cô gái đã tốt nghiệp đại học. Ai cũng bảo chúng tôi xứng đôi và vừa lứa. Họ đã cầu chúc cho chúng tôi hạnh phúc bên nhau suốt đời.
Khỏi phải nói, cha mẹ già của tôi đã mừng vui tới mức nào. Ông bà đều tin rằng sau bao năm mong đợi, nay đã sắp có cháu nội để bế bồng. Vì thế, vợ tôi đã được cả họ nhà chồng quý mến, trông đợi và đặt hết niềm hy vọng vào cô ấy.
Nhưng cũng ngay đêm tân hôn đó, tôi mới phát hiện ra điều bất hạnh lớn nhất cuộc đời mình: Vết thương ở chỗ oái oăm kia, đã khiến tôi vĩnh viễn mất đi khả năng làm chồng. Tôi đã cố gắng hết sức, nhưng đều bất lực. Chiến tranh đã cướp đi thiên chức đàn ông vốn có của tôi từ hàng chục năm rồi, mà tôi không biết.
Lúc đầu, vợ tôi tưởng chồng mình bị mệt sau ngày cưới căng thẳng, lại là chuyện tế nhị, nên cô ấy cảm thông và không nói gì. Nhưng mấy ngày sau, tôi đành phải nói ra sự thật. Từ ngỡ ngàng, đến thất vọng ê chề. Vợ tôi chỉ biết vùi đầu vào chăn gối mà khóc...
Đó là những tháng ngày khó khăn nhất trong cuộc đời tôi. Cuộc sống vợ chồng nặng nề như địa ngục. Tổ ấm hạnh phúc lạnh lẽo dần. Đi làm thì thôi, về tới nhà, chúng tôi không nói với nhau một lời.
Tôi tự thấy mình là người có lỗi với vợ. Không, phải là có tội mới đúng. Tại sao tôi lại không biết thiên chức đàn ông của mình ra sao? Tại sao tôi không thể nói hết với vợ tôi trước ngày cưới? Dù thanh minh thế nào, giờ đây tôi cũng đã trở thành người “lừa dối”.
Tôi bắt đầu mặc cảm với thân phận, tự ti và chán đời. Tôi ngại tiếp xúc với mọi người, trốn tránh bạn bè và bắt đầu tìm thú vui trong rượu và thuốc lá. Tôi đã đốt thuốc lá cháy tay và uống rượu thâu đêm. Tôi nhếch nhác và bê tha. Tinh thần tôi đã bạc nhược và sức khỏe thì sa sút. Mái tóc của tôi nhanh chóng bạc trắng...
Công việc bê trễ, khiến thủ trưởng cơ quan phải góp ý phê bình, bạn bè anh em thì nhắc nhở, động viên. Nhưng có ai biết và hiểu cho tôi đâu? Tôi đang mang một nỗi đau mà một mình tôi phải âm thầm gánh chịu đến suốt đời!



