CHUYỆN MỘT CHUYẾN ĐI
CHUYỆN MỘT CHUYẾN ĐI

CHUYỆN MỘT CHUYẾN ĐI
Dự thánh lễ Khấn Dòng con gái xong, chúng tôi vội rời Thành phố Hồ Chí Minh lên MaDaGui - Lâm Đồng để bắt xe lên Kon Tum viếng mộ liệt sĩ. Sau 30 năm tôi mới có dịp trở lại Sài Gòn -“Hòn ngọc viễn Đông”. Cảnh vật đã quá nhiều thay đổi. Con người, cảnh quan và nhất là nhịp sống đô thị sau hơn 30 năm quả là khác xa so với những ngày đầu giải phóng.
Chẳng có nhiều thời giờ để nhớ lại những kỉ niệm xưa. Sau ba tiếng xe chạy chúng tôi tới MaDaGui, ba giờ chiều hôm đó ngày 2 tháng 11 xe đã đón chúng tôi đưa cả đoàn đi. Khoảng bẩy giờ tối xe tới đèo Xông Pha, xe xuống đèo và kia đã đến đất Ninh Thuận. Ngồi trên xe nhìn xuống Phan Rang ánh điện sáng lấp lánh làm tôi nhớ lại một kỉ niệm khó quên, đó là trận đánh cuối cùng của đơn vị tôi hồi Chiến dịch mùa xuân 1975 vào sân bay Thành Sơn. Đêm hôm tập kết sân bay, ở trên cao đèo Bác Ái nhìn xuống, ánh điện cũng lấp lánh như hôm nay.
Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3/1975 đơn vị tôi d631 vinh dự được đánh trận mở màn vào sáng ngày 05/03/1975 vào đồn Cư Xê trên cao điểm 519, lúc này đơn vị nằm trong đội hình f10 quân đoàn 3 giải phóng huyện lỵ Khánh Dương và đánh quân dù trên đèo Madrak mở tung cánh cửa thép đèo Phượng Hoàng – giải phóng Dục Mỹ và Nha Trang (Khánh Hòa).
Nhiệm vụ tiếp theo của đơn vị trở về đội hình QK5 theo sự phân công của cấp trên tiến đánh sân bay Thành Sơn (Phan Rang), khi vây ép sân bay đơn vị tôi đột nhập từ phía tây huyện Bác Ái xuống đã rơi vào tình thế thiếu nước nghiêm trọng, đất Phan Rang cuối mùa khô này thật đúng với tên “Phan Rang” của nó, trời nắng trang trang, không khí khô nóng, chỉ có cây xương rồng là sống được, còn cây cỏ đều bị khô héo. Đơn vị tôi vì quá thiếu nước nên khi xuất kích đánh địch, lui về hầm nhiều người bị ngất, tất cả đã cạn kiệt, chúng tôi phải uống chính nước giải mình để khỏi bị ngất, nhưng rồi nước giải cũng không còn, vì thế, anh em hy sinh nhiều. Theo hiệp đồng khi Sư đoàn 3 Sao Vàng đánh chiếm thị xã Phan Rang đơn vị tôi nổ súng đánh chiếm giải phóng sân bay Thành Sơn, cùng sư 3 QK 5 và các đơn vị của mặt trận đập tan tuyến phòng thủ Phan Rang và ở lại bảo vệ sân bay. Sau chiến thắng 30/4/1975 đơn vị nhận nhiệm vụ trở về Đaklak tiễu trừ bọn phản động Phuôn rô bảo vệ chính quyền cách mạng.
Sau khi xuống khỏi đèo Xông Pha, chúng tôi ăn cơm tối và tiếp tục đi trong đêm cho tới 4 giờ sáng hôm sau 3 tháng 11. Đã tới ngã ba cầu Bà Ry - Bình Định. Vừa xuống xe tôi đã nghe tiếng các lơ xe gọi tíu tít lên xe đi cao nguyên, trời còn tối và mưa hơi nặng hạt, cô chủ quán mời chúng tôi vào nghỉ ăn sáng, rồi cô sẽ chỉ cho xe lên Kon Tum. Chúng tôi ăn mỗi người một bát cháo nóng, trời lúc này hơi lạnh, ăn song, em tôi tìm điếu để hút thuốc lào, cô chủ quán vào trong lấy ra một chiếc điếu cày do khách đi đường hút bỏ lại, cô nói với chúng tôi:
- Quê bà ngoại con hút loại điếu bầu to có cần dài
Em tôi nói với cô:
- Đó là điếu bát
Ngồi hỏi chuyện tôi mới biết cô là con gái của một cán bộ tập kết lấy mẹ cô ở Hải Phòng, sau giải phóng gia đình về quê Bình Định sinh sống và ba cô đã mất. Tôi nói với cô:
- Ông cán bộ đơn vị chú hồi xưa là người An Nhơn Bình Định
Cô nói:
- Ba con cũng là người An Nhơn
Tôi nói giỡn với cô:
- Con gái Bình Định ghê lắm đó!
Tôi nói chơi với cô như vậy vì Bình Định vốn là đất võ. Nghe vậy cô cười vui và nhìn tôi từ đầu đến chân. Tôi đoán cô chỉ hơn con gái tôi chừng vài tuổi. Với cái nhìn của con người đất võ, chẳng hiểu cô nói nhỏ gì với chồng cô vừa về thế nào mà anh chồng hỏi tôi:
- Chú xưa là lính trinh sát phải không?
Tôi gật đầu, anh nói:
- Con cũng là lính chống CamPuChia mà.
Lúc này trời đã sáng rõ và mưa cũng ngớt hẳn. Cô chủ quán nói với tôi:
- Xe kia mới là xe chạy thẳng lên Kon Tum chú à, ban nãy con không dám nói, sợ nhà xe họ chửi.
Vừa nói cô vừa chỉ tay phía chiếc xe đỗ bên kia đường. Trước khi lên xe, mỗi người chúng tôi mua ở quán cô một vò rượu Bầu Đá, loại rượu ngon nổi tiếng của miền trung (Bầu đá Bình Định) mà.
Rời cầu Bà Ry - Bình Định, chiếc xe du lịch chở chúng tôi theo lộ 19 lên Kon Tum, lúc này khoảng 6 giờ sáng, xe bon bon qua những làng mạc giống hệt làng xóm quê tôi, một khoảng trời bình yên đang lần lượt hiện ra, hai bên đường những hạt lúa hè thu đang ngả màu vàng hứa hẹn mùa thu hoạch đã tới. Mặt trời đang lên dần, ánh nắng ban mai chiếu qua thành xe lấp lánh khi xe chạy trên đường đèo, đây là đèo An Khê và chốc nữa đến đèo Măng Giang, cái đèo mà cách đây 35 năm về trước đoàn công tác chúng tôi vượt đường 19 đoạn chân đèo Măng Giang để xuống Hoài Ân rồi xuống Hoài Nhơn mua hàng nhu yếu phẩm cho đơn vị. Ngày ấy chúng tôi phải vượt đường vào ban đêm vì ban ngày địch khống chế không thể đi được, vượt ban đêm cũng phải hết sức bí mật, chỉ sơ xẩy một chút là hậu quả khôn lường. Hôm đó cùng vượt đường với chúng tôi có cả một số anh em ở Ban Hậu cần Sư đoàn 320 cùng một số anh chị em của Thị đội Gia Lai, đơn vị vận tải 250 vận chuyển đạn dược, mỗi người họ phải gùi trên lưng từ 100 - 140 kg/lần mỗi tuần vào 2 buổi tối, cùng đi với đoàn có cả một nhóm đồng bào dân tộc gùi con trên lưng, nhưng bố mẹ chúng phải chuẩn bị sẵn khăn để bịt miệng chúng lại khi nó khóc. Chuyện kể rằng; có một đoàn vượt đường rất đông và có cả trẻ nhỏ, đang đến đoạn đường quan trọng bỗng một đứa trẻ bật khóc, vì sợ lộ ảnh hưởng đến tính mạng cả đoàn, bà mẹ đã bịt miệng con mình lại, vì đoạn đường khó đi, trời lại tối, đến khi ra khỏi đoạn nguy hiểm đứa trẻ đã ngạt thở và tử vong ngay trên tay người mẹ. Chuyện thực hư thế nào tôi cũng không khẳng định chắc chắn vì mắt không trông thấy, chỉ nghe kể lại, nhưng có điều chắc chắn rằng những sự việc như thế trong chiến tranh chẳng có gì lạ lẫm cả, có chuyện còn bi thảm hơn nhiều, vì chiến tranh là chết chóc, là tàn khốc.
Hôm nay ngồi trên xe ung dung đi giữa một ngày nắng đẹp, ít ai ở nơi khác đi qua đây biết rằng, nơi đây hơn 30 năm về trước lại ác liệt như vậỵ, chỉ có dân bản xứ ở đây thì chắc chẳng ai có thể quên được những năm tháng khốc liệt ấy. Qua hai đèo đi thêm một đoạn đường dài chúng tôi đã đến đường 14, chia tay đường 19 với một thoáng kỉ niệm xưa lại đến đường 14, con đường đầy ắp những kỉ niệm thời chiến binh của tôi, đây là đất Gia Lai, mảnh đất dấu yêu với biết bao kỉ niệm đời lính chiến. Nhớ những ngày đầu tiên đặt chân lên mảnh đất Gia Lai này, chúng tôi ngoài bắc bổ xung vào đơn vị gần 100 anh em, ngày đầu tiên ba đồng đội lính mới (Tùy, Nghị, Hà) cùng với một trinh sát đi dò đường để dẫn đơn vị đi lấy gạo ăn đã không may sa vào ổ phục kích của địch và tất cả đã hi sinh. Ngày ấy dân trong ấp tiết kiệm gạo để gửi ra cho cách mạng nuôi giải phóng, còn chưa có hạt gạo miền bắc nào đưa vào được tới đây, dân cho được bao nhiêu thì ăn bấy nhiêu, còn thiếu đâu phải cử người sang CamPuChia lấy gạo ăn. Thiếu gạo, thiếu muối, sốt rét rừng và chiến tranh ác liệt, đã biết bao nhiêu anh em đồng đội tôi ngã xuống trên mảnh đất này. Gần 100 anh em chúng tôi cùng vào một đợt với nhau, khi giải phóng chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, phần lớn đã hy sinh nằm lại chiến trường, số còn lại trên mình cũng mang đầy thương tích. Tôi cũng là một số ít anh em còn lại thuộc số may mắn, nhưng trên người vẫn còn mang vết thương chiến tranh ba lần bị thương cùng với hai lần bị sốt rét ác tính, hôn mê, sức khoẻ đã giảm sút rất nhiều, khi ở lứa tuổi sấp xỉ 60 này ít ai còn đủ sức về thăm lại chiến trường xưa vì chính tôi cũng không ngờ rằng nay lại có mặt ở đây. Trên mảnh đất Gia Lai này chiến tranh vô cùng ác liệt, cả tỉnh thời chúng tôi vào đây chỉ có tiểu đoàn 631 anh hùng của chúng tôi với những chiến thắng oanh liệt, những địa danh; PơLâyCu, Quân đoàn XiTy, Ku Lăng Ba, Làng ó, TânDo, TuMơRông, ChưPa, Chư Sang, Chư Rê, Chư Nghé, PLâyMe, Thanh An, Thánh Giáo, Đồn Tầm, Đồi Phượng Hoàng v.v... và Đức Cơ, nơi mà tháng 10 năm 1972 tôi đã bị thương nằm trong hàng rào thép gai thứ 3... Hôm đó 9 người chúng tôi chuẩn bị cho trận vây ép đồn Đức Cơ, lúc đó khoảng 12 giờ đêm, vừa hoàn thành công việc chuẩn bị bỗng có nhiều trái lựu đạn US nổ và 8 người đã bị thương, hôm đó không ai đem theo băng cá nhân cả, duy chỉ có một mình tôi mang theo một cuốn băng Trung Quốc loại nhỏ gọn, mặc dù bị nhiều mảnh lựu đạn găm vào người, máu chảy ướt đẫm cả bộ quần áo nhưng không một chút do dự, tôi giật cuốn băng của mình để băng cho Bùi Quý Nhã bị thương nặng hơn vì lo cho tính mạng của bạn mình. Mãi tới gần sáng, anh em vận tải cùng với trinh sát mới đưa được chúng tôi về nơi tập kết, anh Nhâm cùng nhập ngũ với tôi đã cho tôi bộ quần áo để mặc đi viện điều trị. Anh Quýnh, chính trị viên đơn vị cầm tay từng người chúng tôi sụt sùi khóc, khóc vì thương chúng tôi thương vong phải nằm trong đêm lạnh, vì lo cho đơn vị mất đi những cá nhân tin cậy, nhưng rồi anh lại ngọt ngào động viên chúng tôi:
- Thôi, các em cứ yên tâm đi điều trị cho mau khỏi để trở về cùng các anh hoàn thành nhiệm vụ.
Ngày ấy chúng tôi đi điều trị ở ĐT 52 trên nước bạn CamPuChia ba tháng rồi trở về đơn vị lại tiếp tục cùng với Trung đoàn 95 cắt đường 14 lần thứ 2 trên con lộ này. Lần trước trên đường 14 vào đầu năm 1972 ba tháng trời, đơn vị chúng tôi cắm cờ giải phóng ngay trên lộ 14, cắt đứt tuyến giao thông huyết mạch của địch lên Kon Tum. Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiểu đoàn 631 của chúng tôi đã được phong anh hùng; lần này cắt đường 14 cũng không kém phần ác liệt, vì muốn cô lập được đối phương để tiêu diệt, việc đầu tiên phải tính đến là cắt đường chi viện tiếp tế. Muốn giải quyết nhanh các cứ điểm của địch, giảm thiểu sự tổn thất hi sinh, phải quyết tâm cắt đứt các tuyến đường giao thông huyết mạch của chúng. Về phía địch, muốn cứu vãn được tình thế thì bằng mọi giá phải thông đường, hai bên đều quyết tâm cao như thế nên mỗi khi cắt đường, nhất là những tuyến đường giao thông quan trọng như đường 14 này sự ác liệt được đẩy lên đến đỉnh điểm, càng ngày mức độ ác liệt càng lớn.
Việc chọn vị trí cắm chốt để cắt đường đã là quan trọng và việc cấu trúc trận địa làm sao để chủ động trong mọi tình huống đòi hỏi phải mưu trí, sáng tạo, địch cũng biết được điều đó nên chúng tập trung mọi hoả lực có thể nhằm nhổ cho bằng được những chốt cắt đường của ta; máy bay ném bom, pháo cối hạng nặng, kể cả xe tăng và bộ binh liên tiếp tấn công các chốt của ta. nếu kể số trận đánh mỗi ngày có thể hàng chục trận, còn bom pháo thì không lúc nào ngớt, hầm kèo của ta dù chắc chắn đến mấy, sau một ngày chúng oanh tạc cũng bị sập hoặc siêu vẹo, đêm nào cũng phải đem gỗ ra lát lại. Chốt chúng tôi ở gần điểm cao 738, chia làm 3 tuyến, mỗi tuyến có 3 hầm, mỗi hầm chỉ có 2 người, mọi sinh hoạt cá nhân ban ngày đều phải ở dưới hầm, trừ khi tác chiến mới lên cửa hầm, dây thông tin điện thoại hữu tuyến mặc dù đã được chôn sâu dưới đất 20 – 30cm nhưng cũng chỉ được nửa buổi sáng là đứt hết, mọi liên lạc với cấp trên đều phải dùng máy vô tuyến 2W còn đơn vị đánh theo phương án từng ngày, sau khi đã hội ý từ tối hôm trước.
Tôi không thể nào quên được, buổi chiều ngày hôm ấy, đó là ngày 23/03/1973, sau gần 2 tháng chốt cắt đường 14 trong điều kiện khó khăn ác liệt như vậy, chúng tôi vẫn kiên trì bám trụ, giữ vững trận địa, hôm đó là ngày thứ 3 tôi không ăn uống được gì vì những cơn sốt rét hoành hành thì ngay sáng hôm đó, địch đã liên tục tấn công lên chốt chúng tôi hết đợt này đến đợt khác, bom pháo cũng nhiều hơn mọi ngày, khoảng cách các đợt tấn công cũng rất ngắn, có khi chỉ kịp hút song điếu thuốc lá cuốn sâu kèn, thậm chí có điếu còn hút dở dang đã phải bỏ đi để tác chiến, chúng tôi đã đẩy lùi tất cả các đợt tấn công của địch, cứ như thế cho tới khoảng gần 4 giờ chiều, địch chia làm 3 mũi có cả xe tăng tấn công lên chốt chúng tôi. Lúc này hỏa lực chi viện từ xa của ta đã thưa thớt, cơ số đạn tác chiến của chúng tôi cũng đã cạn vì suốt một ngày liên tục tác chiến, chúng tôi phải chiến đấu trong tình trạng hết sức tiết kiệm đạn để chờ tối đến sẽ có tiếp viện ra. Hình như địch đã biết được điều đó, khi thấy hỏa lực của ta thưa dần, chúng tiến lên rất gần ném lựu đạn tới gần hầm và hò la bắt sống chúng tôi, vì lực lượng ta chỉ có 2 hầm xung lực và 1 hầm chỉ huy, cả thảy chỉ còn lại 8 người; 1 chỉ huy, 2 thông tin, 1 y tá và 4 xung lực, đạn cối và B40 đã hết, băng đạn AK của tôi cũng nhẹ dần cho đến lúc tôi áng chừng chì còn nửa băng, Liệu nói với tôi:
- Anh ơi! hết đạn rồi.
Tôi nói với Liệu:
- Anh em mình bắn mỗi người một loạt để chúng im đi là chạy vào tuyến trong nhé, nhớ điểm xạ tiết kiệm đạn
Nói đoạn, ở cửa hầm bên này tôi hướng khẩu AK về phía địch điểm xạ một loạt chừng 2-3 viên rồi chống khẩu súng xuống đất định nhảy lên thì thấy loé một vệt sáng trước mặt, tôi chỉ kịp tụt xuống hầm, bàn tay phải cầm khẩu AK chưa kịp tụt xuống hết thì nghe tiếng nổ M72 (B90) của địch cách cửa hầm chừng 2m, sau tiếng nổ tôi thấy bàn tay phải đau nhói, máu ứa ra ướt đẫm cả ốp che tay trên của khẩu súng, lúc này tiếng xe tăng của địch đã quá gần, bộ binh của chúng bò lổm ngổm theo sau xe tăng, những tiếng hò reo bắt sống chúng tôi ngày càng lớn. Không thể để rơi vào tay giặc, ý nghĩ đó lóe lên trong đầu tôi, phải hành động ngay tình hình đã quá nguy cấp, tôi bảo Liệu:
- Lần này anh em mình bắn mỗi người một loạt nữa, chắc cũng hết đạn rồi, nhất thiết phải chạy vào tuyến trong, cho dù có hy sinh chứ không để địch bắt.
Tôi giơ khẩu AK lên hướng về phía bộ binh địch, ngón tay bóp cò vẫn đầy máu rớt xuống, tôi nghiến răng siết mạnh cò, tay tôi rung lên một lúc rồi cò nhẹ hẫng, ở cửa hầm bên kia Liệu cũng lia một loạt AK về phía địch rồi chúng tôi bật dậy khỏi hầm băng vào tuyến trong, địch bắn như quải cát về phía 2 chúng tôi, mạng sống của chúng tôi lúc đó như “Chỉ mành treo chuông” đúng là chỉ có chúa cứu chúng tôi nên cho dù đạn bay ràn rạt quanh người, sạt đầu, tóc, cày quanh chân nhưng rất may là không trúng, chỉ mấy giây tôi đã vào tới hầm chỉ huy, tất cả đã ở đó, nhìn quanh không thấy Liệu đâu tưởng đã hi sinh, nhưng một lúc sau Liệu cũng đã vào đến nơi an toàn, cậu Xế y tá băng vết thương cho tôi, anh Cự chỉ huy gọi pháo chi viện, anh nói trong máy:
- Cứ bắn thẳng vào chốt chúng tôi vì địch đã vào chốt.
Sau 3 quả cối nổ rất gần, địch im lặng một lúc, tôi nghe rõ tiếng nói trong máy 2 w từ tuyến chỉ huy phía sau báo là; “Đạn chi viện đã hết”. Anh Cự chỉ kịp báo về: "Xin rút” rồi tắt máy. Anh hô chúng tôi rút về phía sau. Vừa chạy ra khỏi hầm một đoạn đã va ngay vào mũi phía sườn trái của địch, chúng bắn xối xả vào đội hình chúng tôi, tất cả tụt vội xuống một hố bom sâu. Tình hình quá nguy cấp, rất may tôi còn một quả lựu đạn vẫn đeo ở dây lưng, đó là thứ vũ khí cuối cùng tôi cố để dành, định bụng chỉ sử dụng nó khi ở bước đường cùng với giặc, ít nhất cũng phải diệt được vài tên giặc trước khi hy sinh, nhưng lúc này là tính mạng của 8 người, sử dụng nó thì may ra có người còn được trở về. Thoáng nghĩ như vậy tôi nói với anh Cự:
- Em còn một quả lựu đạn đây !
Vừa nói tôi vừa giơ bàn tay quấn đầy băng lên, hiểu ý tôi rất nhanh, anh lấy quả lựu đạn ở dây lưng tôi giật nụ xoè và ném về phía địch, cùng lúc lựu đạn nổ địch nằm xuống, rất nhanh chúng tôi băng qua chúng và tụt xuống một mương nước an toàn trở về. Ngay lúc đó một đơn vị được lệnh chi viện cho chúng tôi đã tới và đánh chiếm lại chốt.
Chúng tôi về đến nơi tập kết, anh em ở nhà tưởng chúng tôi đã hy sinh hết nên đã đem balô đồ đạc của chúng tôi nộp lên cấp trên, tôi phải lên lấy để đi viện, trong balô cũng chẳng có gì ngoài chiếc võng và một bộ quần áo cũ, ít xà phòng giặt và một nhúm thuốc lá sợi vàng của Campuchia, chúng tôi vẫn thường quấn sâu kèn để hút và gọi là thuốc lá (miên).
Nhìn chiếc balô, tôi bùi ngùi nhớ lại lời anh Tuần người Thanh Hóa nói với tôi hôm ra chốt: "Trong balô anh còn một bộ quần áo mới được phát, anh vẫn để dành, lần này đi chốt nếu anh hi sinh thì em giữ lấy mà dùng, không phải nộp lên trên đâu" (vì lúc đó quần áo rất hiếm không có cấp phát, ai hy sinh thì phải nộp lên trên để lại cấp phát cho người khác). Anh Tuần là người mà tôi coi như anh trai mình và ngược lại anh cũng rất quý mến tôi, coi tôi chẳng khác gì đứa em ruột của anh vậy. Cách đây 3 hôm anh cùng ở chốt với tôi và anh đã hi sinh trong trận đánh địch xông vào chốt lúc trời nhập nhoạng tối định gây bất ngờ tấn công chốt của ta.
Buồn vì mất anh và nhiều đồng đội lại đã mấy ngày sốt không ăn uống được gì cộng với gần 2 tháng trời ngoài chốt căng thẳng, tôi mệt mỏi rã rời, khoác balô chán chường bước chậm chạp theo chân người dẫn đường về điều trị tại bệnh xá trung đoàn 95 ở chân núi ChưPa. Về tới bệnh xá, vết thương của tôi vì ở chốt lâu ngày không được sạch sẽ nên đã bị nhiễm trùng, xưng tấy đỏ lên đau nhức, cùng lúc liên tiếp những trận sốt cao nhiều lúc làm tôi thiếp đi. Mấy anh em cùng ở lán điều trị rất thương chăm sóc tôi, mấy anh em tôi; anh Châu bị thương chân, tôi bị tay, cậu Bao bị thương ở đầu, chúng tôi liên kết với nhau để tạo ra một con người lành lặn, giúp nhau các việc như tắm, giặt, mắc võng, lấy cơm nước và thuốc men. Ba anh em tôi mắc võng chụm đầu vào nhau tâm sự, động viên, kể chuyện gia đình và đời tư mỗi đứa, từ hôm đó ba anh em tôi thực sự coi nhau như anh em ruột. Anh Châu người Thanh Hóa tuổi đời, tuổi quân nhiều nhất nên chúng tôi tôn làm anh cả, tôi là thứ 2 còn cậu Bao người Lạng Sơn tuổi đời tuổi quân ít nhất nên là em út. Tuy khác đại đội, anh Châu ở thông tin tiểu đoàn, tôi c9, còn Bao ở c11 nhưng chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc với nhau, những lần đi chốt sau này đánh quân lấn chiếm ở đường 5A, những lúc ngoài chốt căng thẳng, anh Châu thường chủ động liên lạc với tôi qua máy điện thoại, anh động viên an ủi tôi, khi ngoài chốt yên ắng tôi lại lên hầm C bộ điện thoại với anh và thường hát tiếng gió cho anh nghe bài "Hà Nội - Huế - Sài Gòn". Cho dù gian khổ, ác liệt chúng tôi vẫn hát cho nhau nghe để tinh thần thêm lạc quan vào chiến thắng và khát vọng hòa bình, cũng nói lên tâm sự của ba anh em chúng tôi ở ba vùng quê khác nhau, hẹn nhau ngày hòa bình thống nhất sẽ gặp nhau trên quê hương đất mẹ.
Thế rồi sau 2 năm Bao hi sinh trong đầu Chiến dịch Mùa xuân 1975, anh Châu đến báo tin cho tôi, 2 anh em nghẹn ngào, đứng lặng người ngậm ngùi tiếc thương đứa em út hiền lành, dễ thương, cậu thanh niên dân tộc Tày xứ Lạng mới vừa tròn 22 tuổi, nhập ngũ tháng 5 năm 1971 có khuân mặt tròn đẹp trai và một nước da trắng như con gái đã vĩnh viễn xa lìa chúng tôi. Thế là lời hẹn ước của 3 chúng tôi chẳng bao giờ thực hiện được, vì Bao đã hi sinh, anh Châu thì từ khi tôi bị thương lần thứ 3 đã mất liên lạc với anh, không biết giờ anh đang ở nơi đâu, vẫn còn hay đã mất. Sau giải phóng tôi lại được đi cùng đơn vị quay trở lại Tây Nguyên tiễu trừ Phuôn rô, rồi chuyển sang lính biên phòng bảo vệ biên giới Tây Nam, rồi cho tới tận bây giờ anh Châu như thế nào tôi vẫn không được rõ.
Hai năm tham gia 2 chiến dịch cắt đường 14 tổng cộng số thời gian giữ chốt, cắt đường cũng tới gần nửa năm, trực tiếp chiến đấu và chịu đựng sự gian khổ ác liệt hy sinh. Con đường 14, cái xương sống của cao nguyên trung phần đã đi vào tâm trí tôi không bao giờ quên được những năm tháng ấy. Tôi cũng thầm cảm phục những đồng đội của tôi thuộc trung đoàn 95 mà đơn vị tôi phối thuộc, họ có một trái tim sắt đá và lòng dũng cảm tuyệt vời.
Tiểu đoàn 631 độc lập của tôi là đơn vị hỗn hợp tác chiến nhiều hình thức chiến thuật, nhưng chủ yếu là đánh mật tập ban đêm; phá ấp dành dân và đánh địch trong công sự vững chắc với lối đánh phương châm chỉ đạo tác chiến là: Kiên quyết, dũng cảm, táo bạo, bất ngờ, luồn sâu, đánh hiểm, đánh nở hoa trong lòng địch. Đó cũng là nhiệm vụ rất quan trọng, đòi hỏi phải có trình độ kỹ chiến thuật cao, điêu luyện, tinh nhuệ và một tinh thần quả cảm mới hoàn thành được nhiệm vụ, nhưng mức độ ác liệt thì không thể so được với cắt đường giao thông.
Tôi nhớ mãi lời phát biểu của đồng chí chính trị viên - Bí thư Đảng uỷ tiểu đoàn trong đại hội tổng kết chiến dịch cắt đường 14 có câu: “Tất cả những ai là quần chúng, nếu đã từng tham chiến đường 14 sẽ kết nạp Đảng không cần duyệt lý lịch”. Câu nói ấy không phải chỉ lúc đó mà ngay cả đến bây giờ đã làm cho chúng tôi, những người đã từng tham gia chiến dịch cắt đường 14, con đường đầy máu lửa đó luôn luôn tự hào vì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được vinh dự là chiến sĩ của tiểu đoàn được nhà nước tặng danh hiệu cao quý nhất: "Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân” và đã từng tham gia chiến đấu ở một trong những chiến trường ác liệt nhất, được góp phần nhỏ của mình cho tổ quốc vang mãi lời hát ngàn sau:
“...Ba mươi năm đấu tranh dành trọn vẹn non sông Ba mươi năm dân chủ cộng hòa kháng chiến đã thành công...”
Qua 2 lần làm nhiệm vụ cắt giao thông đường 14, mặc dù không hợp với sở trường nhưng đơn vị tôi vẫn hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, nhưng cũng biết bao nhiêu đồng đội tôi đã hi sinh trên tuyến lộ này. Giờ không biết các anh đang an nghỉ nơi đâu. Chiếc xe du lịch chở chúng tôi vẫn bon bon trên lộ 14. Tôi cố nhìn và nhớ lại xem mình đã chiến đấu và bị thương ở đoạn nào trên con lộ này, nhưng vì thời gian quá lâu, cảnh vật đã thay đổi nhiều nên xe chạy qua lúc nào tôi cũng không nhận ra và cứ như thế khoảng 10 giờ trưa, chúng tôi đã tới Kon Tum.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Tới đất Kon Tum, vùng đất cánh bắc thời chiến tranh nổi tiếng với những chiến thắng Ngọc Hồi, Ngọc Tô Ba, Ngọc Rinh Rua, 1971 và Đắk Tô Tân Cảnh, Pờ Lây Cần 1972 vang dội một thời, thúc đẩy việc ký kết hiệp định Pa-Ri, đuổi quân Mỹ ra khỏi đất nước và làm tan rã nhanh chóng quân đội nguỵ Sài Gòn.
Chờ bắt xe đi Tân cảnh, chúng tôi vào ăn trưa tại bến xe Kon Tum, ăn xong chúng tôi lên xe đi Tân cảnh, đoạn đường này hơn 40 km. Xe chạy đến ngã ba Tân cảnh lúc 12 giờ trưa, đây là cơ quan huyện Đắk Tô. Hết giờ làm việc buổi sáng, chúng tôi phải ngồi đợi ngoài một quán nước giải khát phía trên ngã ba. Hỏi thăm chủ quán nước, họ chỉ cho tôi nơi làm việc của Phòng LĐTBXH huyện, họ bảo 1 giờ 30 phút chiều mới đến giờ làm việc. Chúng tôi uống cà phê và ngồi chờ, lòng phấp phỏng và cũng mừng thầm vì chúng tôi đã đến được địa chỉ phải đến, vì trước khi đi tôi đã phải hỏi tận nơi một người ở xã Yên Tập có người thân là liệt sĩ cũng ở nghĩa trang Tân cảnh với liệt sĩ Ký anh tôi. Ở nghĩa trang này còn có 2 mộ liệt sĩ xã tôi nữa. Giờ thì có thể yên tâm rồi, vì theo nguyện vọng của mẹ tôi bây giờ thì chúng tôi đã có mặt trên mảnh đất anh tôi nằm yên nghỉ, chỉ chốc nữa thôi là chúng tôi sẽ tới nghĩa trang viếng thăm mộ anh tôi. Vì ngồi ở dưới phố Tân cảnh chúng tôi đã nhìn thấy nghĩa trang trên đồi cao, cách chỗ chúng tôi ngồi chừng 2 km, nhưng vì ở trên cao nên nhìn rất rõ.
Giờ làm việc chiều đã đến, chúng tôi vào Phòng LĐTBXH huyện Đắc Tô gặp Ban làm việc. Anh Hát sau khi xem giấy giới thiệu đã lấy tập hồ sơ liệt sỹ ra xem ngay. Anh hỏi:
- Bác cho biết quê liệt sĩ ở đâu, tên gì ?
Tôi nói:
- Nguyễn Văn Ký, quê Phượng Vĩ, cẩm Khê, Phú Thọ lật tiếp mấy trang thấy anh dừng lại:
- Đây rồi, Nguyễn Văn Ký Phượng Vĩ - cẩm Khê - Nhưng Vĩnh Phú.
Tôi nói:
- Đúng rồi! vì lúc đó còn là Vĩnh Phú, bây giờ tách tỉnh nên mới gọi là Phú Thọ
Tìm tiếp tôi thấy có cả liệt sĩ Nguyễn Văn Quỳnh và liệt sĩ Nguyễn Văn Tháp, cháu họ tôi cũng có ở đây
Anh cán bộ Phòng thương binh huyện nói với chúng tôi:
- Bây giờ các bác lên trên ấy viếng mộ trước, chiều chúng tôi sẽ lên, Lúc đó ông quản trang tới, ông này trạc tuổi ngoài 60, quê gốc Hải Dương là lính trung đoàn 320, ông mới được giao nhiệm vụ quản trang thay người quản trang cũ, ông có nước da xăm xoắn, giọng nói dứt khoát và chân đi phăm phăm đúng tác phong con nhà lính trung đoàn thép. Giờ ông là Cựu chiến binh, nhà ông ở sâu trong một con hẻm phía dưới phố Tân Cảnh. Ông quản trang bảo tôi ngồi lên xe máy ông chở lên nghĩa trang trước, còn mọi người đi bộ lên sau. Lúc này tôi rất hồi hộp vì sắp đến mộ anh nằm.
Đây rồi, nghĩa trang huyện Đắk Tô đây rồi, nghĩa trang nằm ở trên ngọn đồi cao, nơi đây trước kia thời chiến tranh Mỹ Nguỵ đã xây dựng một tuyến phòng thủ phía bắc Kon Tum một pháo đài “Bất khả xâm phạm” chúng tuyên bố rằng: “Bao giờ nước sông Pô Cô chảy ngược thì Việt cộng mới đánh chiếm được Đắk Tô - Tân cảnh”. Trong cuộc phản công chiến lược năm 1972, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên và Quân khu V mở chiến dịch Đăk Tô - Tân Cảnh Xuân Hè 1972. Trong trận chiến cuối cùng ở Đăk Tô BTL Mặt trận B3 đã giao mũi chủ công cho trung đoàn 66 anh hùng cùng với tiểu đoàn 37 Đặc công và các đơn vị của mặt trận tiến đánh cụm cứ điểm Đăk Tô - Tân Cảnh. Sau 5 giờ chiến đấu vô cùng ác liệt, nhất là khi tiến đánh căn cứ Đăk Tô 2, trận chiến diễn ra vô cùng khó khăn, xe tăng địch phản kích mạnh khiến bộ binh ta ở vào thế vừa cầm cự vừa lùi dần, tình thế vô cùng cấp bách nhưng được sự xuất kích hỗ trợ kịp thời của Lữ đoàn tăng 273 bộ binh ta đã tiến lên dứt điểm hoàn toàn. Đúng 11 giờ trưa ngày 24 tháng 04 năm 1972 ta đã hoàn toàn làm chủ chiến trường, cờ giải phóng do Đảng uỷ Kon Tum trao cho trung đoàn 66 đã phần phật bay trên cứ điểm, nơi tập đoàn cứ điểm 42 nguỵ, và cũng chính nơi đây là nơi liệt sĩ ta nằm yên nghỉ...
Nghĩa trang trên đồi cao thoáng và sạch sẽ, có 3 nhà đài, đài chính ở giữa, 2 nhà bia 2 bên có bảng danh sách liệt sĩ, tên, tuổi, quê quán và số lô, số mộ, bên kia lộ, bên trái tính từ cầu Tân Cảnh lên là khu di tích lịch sử chiến thắng Đắc Tô - Tân cảnh, vì cửa khóa, không có người ở đó, tôi không vào được nên không biết trong các nhà đó có những gì. Ông quản trang dẫn tôi sang đài bên tìm danh sách liệt sĩ và dẫn tôi đúng đến phần mộ của anh tôi nằm rồi đi tìm tiếp mộ 2 liệt sĩ cùng quê, lúc này mọi người đã đến, tôi bảo mọi người làm thủ tục thắp hương viếng chung ở đài chính giữa, sau đó chúng tôi đi thắp hương phần mộ anh tôi và mộ 2 người cùng quê, tôi bảo mọi người đi thắp hương các mộ xung quanh, vì nhiều mộ nên bó hương to của chúng tôi cũng chỉ đại diện được số ít, nhưng tôi tin với lòng thành, chắc đồng đội tôi nằm kia cũng thông cảm bằng lòng với chúng tôi.
Trong khi mọi người đi thắp hương các mộ xung quanh, tôi ngồi bên mộ anh dâng lời cầu nguyện cho anh và cho mọi người, vì trong những ngày đầu tháng 11 này người công giáo chúng tôi quen đi viếng nghĩa địa xin ân xá cho mình và cho người đã qua đời, cầu nguyện xong, tôi thì thầm tâm sự với anh vài lời, trong khi tâm sự với anh người nằm dưới mộ cùng với hàng ngàn hài cốt đồng đội, lòng tôi vô cùng sao xuyến, tâm trạng bồi hồi, tôi không thể diễn tả tâm trạng của mình lúc này, tai tôi ù lên, mắt nặng trĩu, cổ họng như nghẹn lại, một thoáng mơ màng, tôi nghe như có tiếng depart của pháo 105 , tiếng ăng ăng của máy bay trinh sát OVIO của địch... chợt tỉnh lại, đâu có gì, đó là tiếng xe chạy dưới phố Tân cảnh. Hòa bình đã hơn 30 năm rồi mà dư âm chiến tranh vẫn cứ ẩn náu đâu đây trong tôi, nó làm tôi bàng hoàng. Tôi nhìn kĩ phần mộ của anh tôi, lúc này hương cũng sắp tàn, nắng chiều xuyên từ phía sau lưng tôi lên, cái nắng cao nguyên cuối mùa mưa này cũng không gay gắt lắm, chỉ làm nóng lưng một chút. Phía trước mặt, dưới dốc là phố huyện Đắc Tô xe cộ nhộn nhịp. Theo yêu cầu của 2 gia đình cùng xã chưa có dịp vào viếng mộ người thân, chúng tôi nhờ ông quản trang xuống phố đón một chú thợ ảnh lên chụp phần mộ của 2 liệt sĩ Quỳnh và Tháp, chúng tôi chụp chung vài kiểu ảnh trước đài chính sau đó về nhà trọ. Trước khi về nhà nghỉ, chúng tôi còn chụp một số ảnh Kỷ niệm tại tượng đài chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh đặt tại ngã ba.
Hôm sau, ngày 4 tháng 11, sau khi ăn sáng song, khoảng 8 giờ sáng, chúng tôi lên Phòng LĐTBXH huyện để thanh toán tiền lộ phí theo chính sách, các đồng chí trong phòng đã nói rõ về chính sách đối với thân nhân đi thăm viếng hoặc di chuyển hài cốt liệt sĩ, anh chị em trong phòng với thái độ cởi mở, làm việc tận tình đã thanh toán đủng đủ cho đoàn chúng tôi, các anh còn dặn thêm; nếu mắc mớ gì thì gọi điện vào. Tôi lấy giấy bút ra ghi lại số điện thoại và cảm ơn chào các anh chị để về quê. Chia tay với các anh chị Phòng LĐTBXH huyện Đắc Tô chúng tôi về nhà trọ thanh toán và thu xếp hành lý để về quê. Lúc này khoảng 10 giờ trưa chuyến xe công ty du lịch Kon Tum - Hà Nội đã chạy qua đây lúc 8 giờ 30, lại là ngày lẻ nên chỉ có một chuyến sáng. Vậy là không có xe ra thẳng Hà Nội rồi chúng tôi lại lên nghĩa trang để đón xe về quê, trong lúc chờ xe chúng tôi lại quay vào nghĩa trang một lần nữa. Lúc này tôi bảo em tôi nối điện thoại với mẹ tôi để mẹ tôi dặn anh đôi điều. Chúng tôi thắp hương và ngồi quanh mộ anh, đặt điện thoại mở loa ngoài trên phần mộ anh, tiếng mẹ tôi vang lên bên mộ anh trong khói hương bay tỏa, vì xúc động mẹ chẳng nói được nhiều, mẹ dặn anh: “Vì điều kiện chiến tranh con phải nằm lại nơi xa quê hương, thôi con cứ yên tâm nằm yên nghỉ trong đó phù hộ cho mẹ và mọi người trong gia đình. Khi nào có điều kiện mẹ sẽ đưa con về quê", nói đến đây giọng mẹ tôi như nghẹn lại, đứt quãng, hình như mẹ đang khóc...
Sau đó, chúng tôi ra cổng nghĩa trang để đón xe. Hai đoàn ở Hải Phòng vào di chuyển hài cốt còn ở lại để đêm làm việc, sáng mai mới về. Lúc đứng nói chuyện với các anh, một anh trong đoàn hỏi tôi:
- Ở đây có thấy gì đâu mà đánh nhau chết nhiều vậy ?
Tôi nói:
- Đúng rồi! có gì đâu, vì chiến tranh đã đi qua hơn 30 năm rồi, bây giờ đất trời đã yên bình, bốt đồn, đạn bom đâu còn.
Dấu tích chỉ còn ghi lại trên bia di tích và các tượng đài, trên đất miền nam đâu còn gì một thời bom đạn. Nhưng qua câu chuyện với các anh tôi thoáng buồn vì lớp người sinh ra sau chiến tranh họ không trực tiếp tham gia kháng chiến nên đâu có hiểu được sự hi sinh lớn lao của thế hệ cha anh, biết bao nhiêu người từ biệt gia đình, làng xóm, quê hương ra đi kháng chiến, nếm mật, nằm gai, vào chiến trường, người khoẻ thì đi phía trước đánh địch, người yếu thì ở lại phía sau tăng gia, sản xuất lấy lương thực cung cấp cho phía trước, chẳng ai được nghỉ ngơi, với khẩu hiệu “Yếu còn hơn thiếu”. Trong số những người ra đi ngày ấy, rất nhiều người phải vĩnh viễn nằm xuống khi trong đời chưa một lần được cầm lá phiếu đi thực hiện quyền công dân bỏ phiếu người lãnh đạo mình, nghĩa là vừa tròn 18 thậm trí còn dưới một chút cũng đã tình nguyện lên đường với khí thế "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”, bây giờ nằm kia, hòa bình đã 33 năm rồi mà có nhiều phần mộ vẫn chưa một lần được người thân đến viếng thăm, đấy là những mộ còn có tên tuổi, rất nhiều mộ chưa xác định được tên tuổi, danh tính và còn không ít hài cốt bị mất tích đang nằm ở đâu đó trên trên đất nước này. Câu hỏi có phần ngớ ngẩn của anh trong đoàn Hải Phòng hôm đó tôi không thấy gì làm lạ bởi thế hệ hôm nay nhiều người không biết, hoặc có biết mà cố tình quên đi. Tôi đưa mắt nhìn lại nghĩa trang lòng thầm nói với các anh rằng “Cho dù tất cả có lãng quên nhưng (tôi) đồng đội của các anh không bao giờ quên..." Mấy anh ở hai đoàn lấy hài cốt đang nấu cơm tại khu nhà nghỉ của nghĩa trang mời chúng tôi ở lại ăn cơm trưa với các anh, tôi cám ơn và cũng chân tình nói với các anh rằng: “Cùng cảnh vào đây với liệt sĩ, tôi biết các anh rất thật lòng mời chúng tôi, nhưng nếu cứ ở đây thì chắc không bắt được xe ra đâu vì nhà xe họ sợ đem theo hài cốt"
Chia tay với các anh, chúng tôi lại xuống dốc quay về phía Tân Cảnh, tới cầu Tân Cảnh lúc này giữa trưa nên nắng gắt, lại vừa mưa một lúc nên hơi nóng, phía bên đường có nhiều người bán mía đỏ, mía ở đây rất rẻ, chúng tôi mua ba cây mía to, gióng dài và ngọt, mía được trồng ở hai bên bờ sông PôCô, phù sa sông đã tạo ra một luồng đất màu mỡ cho cây cối xanh tươi và ngọt ngào như tình người Đắc Tô mến khách.
Chúng tôi ăn cơm trưa ở quán đầu cầu Tân Cảnh, bữa ăn có cả canh rau má mang đậm hương vị xứ quê, đây là bữa ăn cuối cùng ở Đắc Tô trong chuyến đi này. Ăn xong chúng tôi ngồi chờ bắt xe đi Quảng Nam, chỉ sau mấy phút chờ đợi, một chiếc xe du lịch mang biển Kon Tum - Quảng Nam chạy đến, chúng tôi vẫy xe, xe chạy tới đầu cầu thì lùi lại đón chúng tôi. Khi đã yên vị trên xe lòng tôi bồi hồi, mừng vì ngày mai sẽ về đến nhà nhưng bên cạnh vẫn canh cánh trong lòng một nỗi buồn man mác vì phải xa ĐắkTô, xa đồng đội tôi đang nằm yên nghỉ nơi xứ xa quê này, biết bao giờ các anh mới được đưa về hay có người thân đến thăm viếng. Khi xe chạy qua nghĩa trang, tôi cúi đầu tạm biệt các anh lòng thổn thức một nỗi niềm khó tả “Tạm biệt các anh, tạm biệt Đắc Tô nhé !” Tôi thầm nghĩ trong lòng mà miệng khô khốc, xe phải chạy một quãng khá xa tôi mới trấn tĩnh lại. Đường cao nguyên đèo dốc khó đi, xe có lúc nghiêng hẳn sang một bên rồi lại vật sang bên kia vì “Dốc Kon Tum, Hùm Gia Lai" mà. Tôi nói với em tôi: “Xe phải chạy qua dãy núi cao kia mới tới đất Quảng Nam”.
Xe vẫn cứ bon bon trên đường cao nguyên khúc khưỷu, nhất là khi xe chạy trên đoạn đường đèo Lò Xo, cái đèo mà cách đây 3 năm, một sự cố vô cùng thương tâm xảy ra khi một chiếc xe chở hơn 30 cựu chiến binh ở Hà Nội về thăm lại chiến trường xưa đã bị mất thắng (phanh) lao xuống vực. Một anh bạn ngồi cạnh tôi là thợ điện đã chứng kiến sự cố đó kể lại, phải sau 5 ngày mới đánh được đường cho xe cẩu vào cẩu chiếc xe bị nạn lên vì ở dưới độ sâu 70m, câu chuyện đau lòng ấy đã được báo, đài đưa tin ai cũng biết rồi, giờ đây đi qua mới khoảng hơn 4 giờ chiều mà trời như đã gần tối, mây bay tràn trên lưng núi, bầu trời như tối sầm lại và mưa lại bắt đầu, những cơn mưa rừng xối xả, nước chảy ào ào qua đường làm tôi có cảm giác như xe trôi trên nước vậy. Trên đèo có nhiều chiếc xe cỡ lớn chở những cây gỗ to bằng cỡ vành xe đạp trở lên cũng đang ì ạch xuống đèo, xe chúng tôi đi là loại xe nhỏ nên luồn lách đi trước, hết đèo đi xuống Quảng Nam trời bắt đầu tối...
Chúng tôi xuống xe, kiểm tra lại hành lý rồi tiếp tục đi bộ đến ngã ba thì gặp xe chạy ra Hà Nội luôn, trời đêm xe trật ních khách, có cả trẻ nhỏ mới sinh cũng được mẹ bế theo trên xe khóc the thé. Mấy chú nhà xe người Thanh Hóa rất vui tính, họ ca hát luôn miệng và trò chuyện lả lơi, thỉnh thoảng lại lấy chai rượu Lào, loại rượu 40° ra uống và đưa cho mấy người ngồi gần cùng uống cho vui và đỡ buồn ngủ vì chúng tôi lên xe sau nên ngồi ở cuối xe. Xe chạy một đoạn rồi bất ngờ dừng lại đón mấy người nữa lên xe, có cả cậu thanh niên bán hàng quà lên xe và tíu tít mời chúng tôi ăn kẹo đặc sản Huế, rồi mời chúng tôi mua về làm quà, cứ như thế xe chạy suốt đêm đến 8 giờ sáng hôm sau thì đến Thanh Hóa. Lúc này mấy chú lơ xe mời chúng tôi mỗi người một ngụm rượu để chia tay. Họ chuyển chúng tôi sang xe khác và tiếp tục đi, khoảng hơn 10 giờ thì đến Hà Nội.
Lúc này, Hà Nội đang bị ngập nước vì mấy hôm trước ngoài bắc mưa nhiều, xe không vào được bến Giáp Bát, chúng tôi phải xuống đi bộ rồi bắt xe Buys ra bến Mỹ Đình lúc 12 giờ trưa. Vừa vào bến đã có xe về quê ngay nên chúng tôi đi luôn không kịp ăn uống gì, em tôi mua vội được mấy chiếc bánh mỳ lên xe ngồi ăn tạm cho đỡ đói. Bốn giờ chiều hôm đó (ngày 5 tháng 11 năm 2008) chúng tôi về đến nhà, kết thúc một chuyến đi xa.
Đêm hôm đầu tiên sau khi thực hiện một chuyến đi xa xuyên việt 8 ngày đêm liền, mặc dù suốt một tuần chỉ có 2 đêm được ngủ, còn lại đều mất ngủ cả, thế mà hôm nay về đến nhà tôi lại trằn trọc không sao ngủ được, cứ nhắm mắt lại thì như có cái gì đó phảng phất nỗi buồn, niềm lo âu cứ dấy lên trong tâm trí tôi, dư âm chuyến đi cứ vật vờ trong đầu làm tôi thức trắng một đêm nữa.
Đêm hôm sau trời bắt đầu mưa to, mưa kéo dài suốt đêm không lúc nào ngớt, trước đó mưa đã kéo dài hàng tuần rồi, mới ngớt mưa được mấy hôm, đêm nay trời lại mưa to, tôi không sao nằm ngủ được, ngôi nhà quá xuống cấp cứ dột tí tách, mặc dù trước hôm đi hai bố con đã rọi lại những chỗ quan trọng nhưng vì quá nhiều chỗ nát nên nước mưa vẫn cứ dột xuống làm ướt hết cả nền nhà. Ngoài trời gió lạnh bắt đầu thổi làm cánh cửa bếp phập phồng.
Tôi đứng ở cửa nhìn ngôi nhà bể nát, dầm, xà, cột, kèo mọt rượp xiêu vẹo, nếu không có cái cây chống thì sẽ đổ ụp xuống bất cứ lúc nào. Các con tôi sau một ngày làm việc mệt nhọc chúng lăn ra ngủ cả, chỉ còn lại mình tôi thức trắng trong đêm, lòng cô đơn trống trải, bỗng chốc tôi nhớ đến bài thơ tôi đọc được trong những cuốn sổ tay lưu niệm của con trai út tôi hồi cháu đóng quân ở trên Điện Biên chép được trên báo văn nghệ quân đội của một tác giả nào đó viết về người cha của mình, có hoàn cảnh giống hệt gia đình tôi, bài thơ ngắn có tựa đề; “Thác ghềnh cha tôi”. chắc con trai tôi cũng có lòng đồng cảm với tác giả nên mới chép bài thơ này vào trong sổ tay, bài thơ như sau:
Mất mùa trắng cả bàn tay
Cha tôi thức với đường cày còn đêm
Tìm trong đất cứng cỏ mềm
Hạt cơm dẻo, củ khoai hiền nuôi con
Tháng năm xuống cạn lên cồn
Mưa rơi áo bạc sương mòn gót chân
Đói no củ sắn chia phần
Mẹ theo sương trắng phù vân mất rồi
Cần lao nặng gánh vai người
Nén nhang cha nguyện về nơi suối vàng
Nửa đời áo lính dọc ngang
Mảnh bom cha vẫn còn mang trong mình
Ngày về tóc chẳng còn xanh
Mẹ đi bỏ mái nhà tranh gió lùa
Tảo tần, cung cúc sớm trưa
Nuôi con cho cả người xưa thay mình
Gió lay phên mỏng, liếp mành
Đói no con vịt thác ghềnh cùng cha
Sông gầy thấm hạt phù xa
Cho con nhân nghĩa để mà hiếu trung
Nuốt dòng nước mắt vào trong
Đắng cay như ngọn cải ngồng “cha tôi"
Phải rồi, ở lứa tuổi tôi bây giờ tuy chưa già nhưng cũng đang ở vào thời điểm như cây cải đã ra ngồng, chỉ một thời gian không lâu nữa sẽ ra hoa thành quả, rồi vàng úa, kết thúc tuổi một loài cây. Cái đắng, cái cay của cây cải đã ra ngồng kia giống như đắng cay của cuộc đời những người cha có hoàn cảnh éo le như tôi vậy. Biết rằng nhà cửa xuống cấp, dột nát, nhưng biết lấy gì để làm mới hay tu sửa lại, trong khi đi ra ngoài nhiều cao ốc và nhà cao tầng san sát mọc lên. Chẳng nói đâu xa, ngay ở làng xóm nghèo quê tôi cũng chẳng còn ai phải ở căn nhà dột nát như tôi nữa, ít nhiều, to nhỏ gì chẳng khang trang lắm nhưng cũng còn vững chải hơn. Đi nhiều, biết lắm lòng càng thấy chua xót, đúng như trong Truyện Kiều có câu:
Thà rằng chẳng biết cho xong
Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu
Biết vậy nhưng “Lực bất tòng tâm”, “Sức đã cùng, lực đã kiệt", vợ mất, con cái yếu đau bệnh tật, ngay cả đứa cháu nội vừa mới lọt lòng đã mang dị tật chiến tranh (Khối u máu) dấu tích của những ngày “nằm gai nếm mật” trong chiến trường, nơi trận địa chỉ còn trơ những cành củi khô không một chiếc lá trước những trận dải thảm chất độc hóa học của giặc Mỹ. Đã rất nhiều lần cháu phải về bệnh viện K Hà Nội chữa trị. Nhớ ngày hai cháu gái song sinh chào đời thì một cháu bị Khối u máu bẩm sinh. Khi mới 5-6 tháng tuổi bố mẹ cháu phải đưa cháu về bệnh viện K - TW điều trị. Hoàn cảnh lúc đó vô cùng khó khăn vì nhà vừa tập trung hết sức lực vay mượn để chữa chạy cho bà nội của các cháu cùng lúc bị nhiều bệnh hiểm nghèo; suy tim nặng - tai biến mạch máu não, liệt nửa người — viêm ruột thừa cấp phải đưa đi mổ cấp cứu, khi về nhà lại bị viêm tắc mạch máu, hơn hai năm trời tập trung chữa trị vét đến đồng tiền hạt gạo, cân sắn cuối cùng rồi vĩnh viễn ra đi, bỏ lại các con bệnh tật còn dại chưa trưởng thành và người chồng bệnh tật vì đã hơn 10 năm tôi bị bệnh không làm được việc gì, thậm trí còn cần người phục vụ vì căn bệnh tim nặng phải vét hết tài sản đi chữa chạy hết viện nọ viện kia, từ viện dân sự đến viện quân đội lại cùng lúc 3 bố mẹ tôi trong vòng mấy tháng trời lần lượt ra đi rồi tiếp đến vợ luôn thật là: "Hoạ vô đơn chí", cảnh bệnh tật yếu đau lại gà trống nuôi con, nhà trong cảnh điêu tàn quyệt quệ. Nhưng với nghị lực và bản lĩnh của một người lính đã từng trải qua chiến đấu, cùng với một niềm tin thiêng liêng đã giúp tôi đứng vững ổn định gia đình và lo toan việc cưới xin cho bố mẹ cháu. Niềm vui con cháu vừa mới được nhen nhóm lên thì nỗi lo âu lại ập đến, nhà chẳng còn gì để bán ra tiền lại nợ nần chồng chất. Mẹ cháu phải bán vật kỷ niệm ngày cưới của ông bà ngoại cháu tặng, rặng tre trồng chắn đất vẫn chưa thành búi đã lại phải chặt bán nốt cộng với vay mượn thêm để lấy tiền cho cháu đi viện. Một cháu bố mẹ đưa đi viện còn một cháu ở nhà với ông nội, vì cháu còn quá dại nên phải đi xin bú mớm cho cháu khắp làng trên xóm dưới. Đêm về nghe tiếng khóc của trẻ thơ khát sữa nhớ mẹ mà nước mắt tôi cứ trào ra. Thương con, nhớ cháu bé bỏng vừa mới sinh ra đã phải đi nằm viện xa nhà không biết giờ này ra sao (vì lúc đó nhà chưa có điện thoại) thương đứa cháu bé ở nhà mới được mấy tháng tuổi đã phải sớm xa dòng sữa mẹ.
Đến nay 2 cháu đã đi học, hàng ngày đưa đón cháu đi học về, nghe tiếng trẻ thơ bi bô đánh vần, biết ngồi nghe ông kể chuyện tôi cũng vợi đi phần nào, nhưng nỗi lo thì vẫn còn đó vì hiện giờ vết lan ở chân khối u vẫn đang có hiện tượng phát triển. Theo bác sỹ điều trị nói; “Còn phải tiếp tục theo dõi cháu".
Đó mới chỉ là 2 cháu nội một lần sinh thì một cháu đã không bình thường, liệu những đứa cháu nội, ngoại khác sau này sinh ra có được bình thường như bao đứa trẻ khác không? đó là điều mà tôi hằng ưu tư, trăn trở. Đất nước thì đã yên bình nhưng trong tâm trí tôi biết đến bao giờ mới được bình yên. Bản thân tôi vừa bệnh tật vừa thương tật đau yếu chẳng lúc nào được yên nhất là khi thay đổi thời tiết, trái nắng trở trời bệnh tật hoành hành làm cho chính bản thân mình bứt rứt, khó chịu mà còn làm cho con cháu phải mất ăn mất ngủ vì mình, người ngoài nào có ai biết, ai hay.
Thật là nực cười có nhiều người còn ngộ nhận hoàn cảnh thực của gia đình tôi, thậm chí có người còn ghen tị với cuộc sống của tôi nữa chứ, đã nghèo, lại nghèo thêm, đã khó khó cả đêm lẫn ngày, khi mà cả nhà có duy nhất đứa con út chẳng bằng ai nhưng gọi là còn khoẻ hơn trong gia đình, vừa lớn lên chưa làm gì giúp đỡ gia đình đã lại phải theo bước cha nó lên đường đi làm nghĩa vụ quân sự, vừa rồi đã ra quân nhưng chưa tìm được việc làm. Thời buổi này mà không có việc gì làm ra tiền, cứ quanh quẩn trông vào nông nghiệp thì ăn không song chứ nói gì đến kiến thiết, tu sửa.
Đứng nhìn ngôi nhà trong đêm mưa tầm tã, nước mắt tôi cứ ứa ra, tôi muốn khóc, khóc cho dòng đời đen bạc, cảnh đời chớ trêu, khóc cho cuộc sống nghiệt ngã, thương cho con cháu tôi phải cùng tôi mà gồng gánh cuộc đời, thua chúng kém bạn, cũng bởi chiến tranh cướp đi phần lớn sức khỏe của tôi nên thế hệ con cháu phải chịu thiệt thòi.
Ngồi buổi tối, lấy giấy bút ra, viết những dòng này, thiết nghĩ cũng chẳng để làm gì vì "Văn hay chữ tốt chẳng bằng dốt lắm tiền” mà. Nhưng tôi vẫn muốn viết, viết thật nhiều cho lòng thanh thản, viết để lưu lại cho thế hệ con cháu, những chủ nhân của thế hệ mai sau phải luôn ghi nhớ và trân trọng những gì lớp cha anh đã làm được “Phi cổ bất thành kim”, không có cái cũ thì lấy đâu ra cái mới, không có gian khổ ác liệt hôm qua lấy đâu ra thanh bình no ấm hôm nay. Cuộc sống hôm nay chưa thật sung túc, đầy đủ, nhưng so với thời chiến tranh cũng là “thiên đường” rồi chỉ có những ai đã sống và trải qua chiến tranh, đã từng mất mát mới thấy được giá trị của hòa bình, hiểu được cuộc sống hòa bình quý giá như thế nào, bởi để giành được nó chúng ta phải đổi bằng xương bằng máu của bao đồng bào, đồng chí đã ngã xuống vì độc lập tự do của tổ quốc, họ đã “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, họ ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, một cựu chiến binh đã khắc hoạ trong bài thơ, hay đúng hơn là bài tế đồng đội khi ông về thăm lại chiến trường xưa:
Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi cùng sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm
Đáng tiếc thay, thế hệ hôm nay tuy có nhiều người nhận biết được giá trị lịch sử của cha ông, biết trân trọng và phát huy truyền thống tốt đẹp đó, nhưng đâu đó vẫn còn không ít người thuộc thế hệ hôm nay, những người sinh ra sau chiến tranh, được sống trọn trong hòa bình không quan tâm hoặc không muốn biết những gì thuộc về quá khứ. Câu hỏi có phần ngớ ngẩn của anh trong đoàn Hải Phòng đi lấy hài cốt hôm nọ không làm tôi ngạc nhiên, vì ngay ở quê tôi bây giờ và có lẽ cũng nhiều nơi trên đất nước này khi nói đến chiến tranh họ không bao giờ màng đến, thậm trí họ còn cho là gàn dở khi nói về chủ đề này, những ca khúc kháng chiến, những bài ca Trường Sơn, bài hát ca ngợi các anh hùng liệt sĩ, những thước phim về đề tài chiến tranh lớp trẻ không ngó ngàng gì tới. Đối với thế hệ chúng tôi khi được nghe những ca khúc về một thời Trường Sơn, lòng lại rạo rực như được sống lại một thời hào hùng của tuổi trẻ, một thời sẵn sàng hiến cả tuổi thanh xuân cho quê hương đất nước. Tôi luôn tự hào là người trực tiếp tham gia kháng chiến, là một trong số những anh em tham gia chiến đấu nhiều nhất, những oái ăm thay, tôi lại là một trong những người có cuộc sống nghèo khó nhất, nên chính con cái tôi cũng có biểu hiện như vậy, đó là điều dễ hiểu vì thời đại ngày nay nói không phải là bi quan nhưng đối với một số người tiền là trên hết, tiền là tiên mà !
Nguy hiểm hơn còn có cả những người cũng một thời tham gia chiến đấu, cùng một thời là đồng đội sống chết có nhau, thậm chí trong chiến đấu họ là những người anh hùng, họ sẵn sàng lấy thân mình che bom đạn cho đồng đội, trước quân thù không biết run sợ, nay trong thời bình họ được giao những chức vụ quan trọng với hy vọng họ đã được thử thách trong chiến tranh, sẽ không điều gì có thể cám dỗ được họ bởi họ đã được tôi luyện trong chiến đấu, với chức trách được giao họ sẽ là những người công bộc tốt của nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ, nhưng không, một số người đã quay mặt lại với Đảng, với nhân dân, khi có chức quyền trong tay, vì lợi ích của riêng bản thân và gia đình họ đã làm những việc mà trời đất quỷ thần không dung, họ biến mình thành những con sâu mọt, đục khoét tài sản của nhân dân, của nhà nước, nhũng nhiễu nhân dân và ngay chính những người đồng đội đã vào sinh ra tử cùng mình. Chỉ đơn cử một việc hôm đoàn chúng tôi đi thăm viếng mộ liệt sĩ về nhà, mặc dù phía đầu trong đã thanh toán đầy đủ, nhanh chóng cho chúng tôi ngay, nhưng khi về tới huyện nhà cẩm Khê, em tôi mang giấy tờ xuống huyện thanh toán (tôi là em rể nên không thuộc đối tượng được thanh toán tiền) vìem tôi là em ruột liệt sĩ xuống làm thủ tục thanhtoán, họ đãgâykhông ít khó khăn, họ bắt em tôi phải về xã xin giấy xác nhận của địa phương xuống vẫn không được, họ bảo chúng tôi phải lấy được hồ sơ chi trả phía đầu trong, chúng tôi lại phải gọi điện vào Phòng LĐTBXH huyện Đắc Tô - Kon Tum yêu cầu gửi hồ sơ ra, rất may các anh chị trong đó đã tận tình giúp đỡ gửi toàn bộ hồ sơ ra theo đường bưu điện và em tôi lại lần thứ 3 đem nốt giấy tờ theo yêu cầu xuống họ mới chấp nhận và cho biết khi nào có tiền sẽ thông báo, nhưng cho đến nay cũng gần 2 tháng rồi mà vẫn chưa thấy có tin gì...
Quả thực lòng tin của nhân dân vào Đảng đang bị chính những cá nhân lợi dụng vào Đảng để làm sai trái, hàng ngày nghe đài báo đưa tin về ông giám đốc này, ông chủ tịch kia bị bắt về tham ô hối lộ lòng tôi càng đau xót, họ đâu có biết rằng hậu quả mà họ gây lên là vô cùng nghiêm trọng. Nhưng tôi tin đó chỉ là số ít, tôi vẫn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng là đúng đắn, chân lý sẽ vẫn là chân lý, những người cách mạng chân chính sẽ biết cách tìm ra con đường đưa đất nước Việt Nam tiến lên một cách mạnh mẽ và chắc chắn những kẻ sâu mọt rồi sẽ không còn đất để tồn tại, nhưng để làm được điều đó thì phải cần sự đoàn kết của toàn Đảng, toàn Dân, toàn thể bộ máy chính quyền, đoàn thể và toàn xã hội.
Câu chuyện kỉ niệm một chuyến đi của tôi chỉ là một số kỉ niệm và những cảm xúc của tôi khi trở lại những địa danh mà trước đây tôi đã sống, chiến đấu, còn nhiều những nơi khác nữa và rất nhiều những kỉ niệm vui buồn trong suốt 8 năm trời của đời chiến binh, những địa danh mà trong chuyến đi này tôi không đi qua nên tôi không tiện viết lên đây và tôi cũng không đủ tài viết lên thành sách truyền lại cho con cháu mai sau. Tôi cũng chẳng trách móc ai, cũng không có tham vọng gì nhiều, nhân tiện có chuyến đi của tôi qua chiến trường xưa, cũng nhân dịp kỉ niệm 64 năm ngày thành lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - 48 năm Thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam tôi chỉ muốn góp một tiếng nói nho nhỏ nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay chớ lãng quên đi những gì thuộc về quá khứ, bởi nếu đi ngược lại dòng chảy xã hội thì có thể gây ra hậu quả to lớn, ảnh hưởng đến vận mệnh của đất nước. Mỗi ngày chiến tranh sẽ lùi dần vào quá khứ, sẽ phai nhạt dần hình ảnh của một cuộc kháng chiến vẻ vang, thành quả của đất nước khi chuyển giao cho một thế hệ không hay biết gì về chiến tranh quả là điều đáng lo ngại, không ai sống bằng quá khứ, nhưng ta không được phép lãng quên nó, không có quá khứ thì làm sao có tương lai. Bài học đắt giá của Liên Xô cho thấy một đất nước hùng cường, một thời được mệnh danh là “Thành trì của xã hội chủ nghĩa” thế mà ra khỏi chiến tranh được mấy chục năm, khi thế hệ sau lên nắm quyền đã sụp đổ một cách đau đớn, không một tiếng súng, tôi không định bàn sâu xa về chính trị thời sự quốc tế nhưng theo cách nghĩ của riêng tôi, một trong những lý do dẫn đến như vậy chính là thế hệ kế tiếp đã quên đi quá khứ hào hùng của cha ông, đó chẳng phải là suy nghĩ của mình tôi là một người dân bình thường mà Bác Hồ - Lãnh tụ vĩ đại cũng đã tính đến điều ấy, trước lúc vĩnh viễn đi xa Bác đã dặn lại trong di chúc rằng: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết", chữ “rất" ở đây được Người lặp lại hai lần đủ nói lên tầm quan trọng của nó.
Trước khi nói lời kết câu chuyện này, tôi có suy nghĩ rằng; một cây bút như Đại Thi hào Nguyễn Du cũng phải thốt lên câu: uHỡi ơi, muôn sự tại trời” khi viết song cuốn "Truyện Kiều”, chẳng dám mạo muội bắt trước ông, tôi chỉ muốn nói với những người đã từng sống, chiến đấu, trải qua chiến tranh, là đồng đội tôi đã trực tiếp tham gia chiến đấu nay đang sống ở mọi miền đất nước trong ký ức, xin về lại cùng tôi với những kỉ niệm xưa - xin chắp bút cho câu chuyện một thời chiến tranh thêm đầy đủ và sinh động hơn - xin hãy làm sống lại kỉ niệm của những con người đã quên mình cho sự bình yên của hôm nay.
Phượng Vĩ, ngày 22 tháng 12 năm 2008
CỰU CHIẾN BINH
THƯƠNG BINH
Nguyễn Trọng Đỗ


