Bài viết

CHUYÊN MỘT NGƯỜI ANH HÙNG

Đà Nẵng10/06/2026Cao Thị Thảo Hương (Đoàn Trường THPT Thái Phiên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

85 tuổi đời, gần 60 năm “nhìn đời” bằng đôi mắt giả, nhưng trái tim

người lính Cụ Hồ vẫn luôn ấm áp để làm điểm tựa giữa đời thường.

Anh hùng Lực lượng vũ trang - Lê Hữu Trạc

1.000 ngày giữ đảo

Như những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi cùng thế hệ, năm 1962,

chàng thanh niên Lê Hữu Trạc nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội

Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341 đóng quân ở Vĩnh Linh,

Quảng Trị với nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến.

Năm 1965, khi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ bước vào giai đoạn

ác liệt, đảo Cồn Cỏ, được mệnh danh là “mắt thần” của miền Bắc trở

thành mục tiêu đánh phá của máy bay, tàu chiến Mỹ. Để bảo vệ “mắt

thần”, Đại đội Lê Hồng Phong được lệnh cử một trung đội ra Cồn Cỏ.

“Lúc này, hàng ngày các tàu khu trục, tàu tuần dương bao vây đảo và

trên đầu là máy bay quần thảo, nhiệm vụ rất gian khổ và hiểm nguy

nhưng ai cũng mong được ra Cồn Cỏ. Để “cạnh tranh” cùng các đơn vị

khác, tôi là Trung đội phó, Bí thư chi bộ đã họp tổ Đảng và trình bày

sáng kiến cạo trọc đầu để tiết kiệm tối đa nước ngọt gội đầu khi ra đảo.

Với lòng quyết tâm và sáng kiến đó, trung đội “cạo trọc” của chúng tôi đã

được chỉ huy Đại đội Lê Hồng Phong lựa chọn ra giữ đảo Cồn Cỏ”, ông

Trạc nhớ lại.

Và đêm mùa hè tháng 7/1965, giữa muôn trùng sóng gió và sự bao vây

của máy bay, tàu chiến địch, Trung đội 3 vượt 17 hải lý và đặt chân lên

đảo tiền tiêu. Gần 1.000 ngày giữ đảo, ông không thể nhớ hết có bao

nhiêu trận bom, bao nhiêu cuộc chiến. Dưới mưa bom bão đạn, hòn đảo

có khi không còn một bóng cây, mặt đất bị cày đi xới lại. Vừa chiến đấu,

ông và đồng đội vừa đào công sự, hầm hào. Có những thời điểm ác liệt,

tiếp tế nhu yếu phẩm từ đất liền gián đoạn, họ phải sống cầm hơi, chặt

chuối rừng vắt nước uống. Người lính này hy sinh, người lính khác xông

lên thay thế. Nhiều đồng đội của ông đã ngã xuống và thân xác mãi nằm

lại trên đảo.

“Sau này, tôi nghe lịch sử thống kê lại từ năm 1964-1968, có trên 1,3

vạn quả bom và hàng vạn quả rốc két ném xuống Cồn Cỏ; 172 lần tàu

chiến bắn trên 4 nghìn quả đạn pháo lên đảo. Bình quân mỗi cán bộ,

chiến sĩ hứng chịu gần 40 tấn bom đạn và mỗi ha đất là 22,6 tấn. Còn

lúc đó, chúng tôi chỉ biết ngày nào cũng bom rơi đạn nổ. Cồn Cỏ vô

cùng ác liệt, nhưng phía sau chúng tôi có cán bộ, nhân dân Vĩnh Linh

anh hùng, tình nghĩa sẵn sàng xung phong tiếp tế cho đảo. Tôi nhớ cụ

Thục, tuổi ngoài 60, là “chuyên gia” theo dõi thời tiết. Mọi chuyến tiếp tế

ra đảo hay đưa thương binh vào đất liền nhờ cụ mà “thuận buồm xuôi

gió”, Cồn Cỏ nhờ đó mà vững vàng đến ngày chiến thắng!”, ông Trạc

bồi hồi kể lại.

Mùa xuân năm 1968, ông được điều động vào đất liền, chỉ huy Đại đội

Lê Hồng Phong với mục tiêu chặn đứng đường tiếp viện của địch lên

chiến trường Khe Sanh. Đánh chặn tàu địch ở Cửa Việt, đánh sập cầu

Bến Ngự, tiêu diệt đại đội thủy quân lục chiến, bắt sống trung úy Mỹ…,

những sự kiện vang dội được ông kể lại một cách giản dị. Tháng

8/1968, khi là Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 4, E270, Quân khu 4, trong

một chuyến trinh sát trận địa ở phía Tây Vĩnh Linh để chống địch đổ bộ

bằng đường không, ông bị vướng bom nổ chậm, chiến sĩ liên lạc đi cùng

hy sinh tại chỗ còn ông bị hất tung và vỡ nhãn cầu cả 2 mắt...

Điểm tựa giữa đời thường

Thương tích quá nặng, dũng sĩ Lê Hữu Trạc được đưa ra tuyến sau

điều trị. 2 mắt bị hỏng, ông phải lắp mắt giả. Vĩnh viễn không thể trở lại

chỉ huy chiến trường khi chỉ vừa 28 tuổi, nỗi buồn canh cánh trong lòng

ông. Nhưng may mắn trong những ngày ở Trại an dưỡng Ba Vì, ông

gặp cô gái quê Hà Tây Kim Thị Mão, vì cảm phục và yêu quý chàng trai

Quảng Bình anh hùng, chất phác nên đã nhận lời yêu và làm vợ người

thương binh “tàn nhưng không phế”. Năm 1972, cô gái Hà Tây dắt ông

trở lại quê nhà Xuân Ninh và sống cuộc đời bình dị.

Phần lớn hồi ức của cựu binh Lê Hữu Trạc là về đồng đội. Đó là những

câu chuyện về Đảo trưởng Trần Văn Thà, thủ trưởng của hàng chục

người lính được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND; là anh hùng

Thái Văn A, Trần Văn Mật, là Đỗ Như Đệ, người liên lạc đã hy sinh trong

chuyến trinh sát cùng ông… “Danh hiệu anh hùng của tôi được tô thắm

bằng máu của đồng đội”, ông chia sẻ.

Tri ân và nhớ thương đồng đội, tự hào về quá khứ, tin tưởng ở tương

lai, ông tỏa ra thứ năng lượng ấm áp, thiện lương và chân thành. Nghe

ông kể chuyện, nỗi xúc động, tự hào về quá khứ của quê hương, của

các thế hệ cha anh, cứ trào lên… Cuộc đời bi tráng và giản dị của Anh

hùng LLVTND Lê Hữu Trạc và những đồng đội của ông, như câu thơ

của nhà thơ Hồng Thanh Quang, chính là điểm tựa cho thế hệ hậu sinh

không bị lạc lối giữa những cám dỗ đời thường.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn