CHUYỆN MỘT VỆ ÚT CỦA TRUNG ĐOÀN THỦ ĐÔ
Chuyện một Vệ Út của Trung đoàn Thủ đô
Tôi bắt đầu đời chiến sĩ liên lạc khi mới 13 tuổi như vậy đấy. Hôm sau, ông Vũ Lăng xuống trung đội, ân cần hỏi Phùng Đệ:-Em có biết nhà Thủy Lâm không?- Em có biết ạ.-Em đi quan sát tình hình địch, xem chúng bố trí trận địa, đặt súng ở đâu, rồi về báo cáo cho các anh biết.Hơn 70 năm đã qua, ông Đệ vẫn nhớ như in cảm giác khi đi trinh sát: Đêm tối, đường phố không còn điện, tối om. Tôi men qua Hàng Bè, Hàng Dầu, bò dần về phía nhà Thủy Lâm (nay là trụ sở Sở Văn hóa-Thông tin thành phố Hà Nội). Cổng nhà Thủy Lâm khóa chặt, tôi nhìn thấy bọn địch lố nhố trong sân, trên gác, ghi nhớ vị trí đặt súng của chúng, rồi bò về báo cáo lại. Xong nhiệm vụ, tôi thở phào. Sau đó, ông được các anh lớn tuổi tin cẩn, cùng với ông Phúc, là trinh sát của đại đội 15, có nhiệm vụ điều tra, nắm tình hình địch. Hàng ngày, cứ khoảng 6 giờ chiều, ông phải đến từng trung đội và các điểm chốt, giao khẩu lệnh bí mật của đại đội để tránh việt gian trà trộn. Ngày nào có khẩu lệnh riêng của ngày đó. Xung quanh Bờ Hồ, địch chiếm giữ hết các điểm: đền Ngọc Sơn, đền Bà Kiệu, nhà Thủy Lâm, Bưu Điện, nhà Gô- đa, khách sạn Phú Gia, trụ sở Hội Khai trí tiến đức (nay là Trung tâm biểu diễn nghệ thuật, ngã ba Hàng Trống-phố Lê Thái Tổ), nhà Bác ở (số 8 Vua Lê, nay là phố Lê Thái Tổ), nhà Thủy Tạ… Vậy mà đêm đêm, các chiến vẫn đột kích địch. Ngay ở quán Tân nghệ sĩ (nay là hiệu sách Bờ Hồ) có một hỏa điểm, ta giữ vị trí lợi hại này và chốt chặn cả dãy phố (nay là phố Đinh Tiên Hoàng từ hiệu sách Bờ Hồ đến nhà Hàm Cá mập).Ông Phùng Đệ kể rành rọt: Tôi dẫn một tiểu đội của anh Cao Đa (thuộc Đại đội 15) từ Hàng Bè sang chi viện cho Đại đội trưởng Đại đội 14 Hoàng Viết Điểm. Ta bí mật tiếp cận rồi bất ngờ tấn công địch, giành lại được vị trí một cách nhanh gọn. Chúng tôi được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư khen, thêm phấn khởi bám trụ.17 giờ ngày 17-2, lệnh rút khỏi Liên khu I đưa xuống đại đội. Ông Đệ làm nhiệm vụ truyền tin, nhưng cũng rất bàng hoàng, xót xa. Ông kể: Mỗi người được phát phù hiệu riêng, mỗi đại đội phải có dây vải để mọi người nắm giữ liên lạc với nhau cho khỏi lạc đội hình. Làm liên lạc nên tôi nhớ như in những việc tưởng như nhỏ nhặt này. Đại đội 15, tiểu đoàn 103 đi sau cùng. Một trung đội chặn chốt ở quán Tân nghệ sĩ làm nghi binh, ra sau rốt. Nhưng ra đến Bãi Giữa, chúng tôi bị lạc nhau, dây vải cũng chẳng còn. Hành quân suốt đêm, trong lúc chờ thuyền, mệt quá tôi lăn quay ra ngủ trên bãi ngô, cho đến khi chị Định y tá lay gọi lên đò, tôi mới dụi mắt, tỉnh dậy, lên thuyền, sang sông.Sau khi sang Xuân Canh, tôi được biết trung đội đi sau rốt đã không sang được đò. Các anh ở lại chiến đấu cùng đội Nguyễn Ngọc Nại và hy sinh trên bãi dâu Tàm Xá. Đây là điều tôi giữ mãi trong lòng, đến nay, kỷ niệm 70 năm Hà Nội mở đầu kháng chiến toàn quốc, tôi thấy cần phải nói rõ những điều mà bấy lâu, chúng tôi đã không nói được hết. Ông và tôi đều ngậm ngùi, ắng lặng tràn ngập căn phòng nhỏ! Trong lịch sử cách mạng của phường Tứ Liên và xã Xuân Canh, nhân dân đã ghi nhớ các chiến sỹ Trung đoàn Thủ đô hy sinh trong cuộc tấn công của giặc trên sông Hồng và ngàn dâu Tàm Xá. Xương cốt các Anh đã hòa vào lòng đất Mẹ chở che.Tôi ở Đoàn Múa của Tổng cục Chính trị đến năm 1959 thì chuyển sang điện ảnh quân đội.Nghiệp của người nghệ sĩ vận vào ông, với tâm huyết và ý tưởng sáng tạo. Ông làm đạo diễn, phó đạo diễn kiêm quay phim trong những năm ở xưởng phim quân đội, giành được những giải thưởng xuất sắc như Lên đường hành quân- giải Bông sen Bạc; Võ tay không- giải Bông sen Vàng, tại Liên hoan phim Việt Nam lần 1 (1970); Phim Những cô gái Đại đội 3 quân giải phóng và phim Chiến thắng đường Chín- Nam Lào đều giành giải Bông sen Vàng tại Liên hoan phim quốc tế Lép- zich (1972).


