CHUYỆN MỘT VỆ ÚT CỦA TRUNG ĐOÀN THỦ ĐÔ
Trong cuộc kháng chiến thần kỳ của quân dân Hà Nội 60 ngày đêm bám trụ từng đường phố, có một đội quân thiếu niên gần 100 em, làm nhiệm vụ trinh sát, giao thông liên lạc, quân báo… rất thông minh, dũng cảm, nên đến khi lên Việt Bắc, được các anh Trung đoàn Thủ đô gọi trìu mến là Vệ Út.
Trong cuộc kháng chiến thần kỳ của quân dân Hà Nội 60
ngày đêm bám trụ từng đường phố, có một đội quân thiếu
niên gần 100 em, làm nhiệm vụ trinh sát, giao thông liên lạc,
quân báo… rất thông minh, dũng cảm, nên đến khi lên Việt
Bắc, được các anh Trung đoàn Thủ đô gọi trìu mến là Vệ
Út.Ông Phùng Đệ, nguyên cán bộ của Xưởng phim Quân đội, là
một trong những Vệ Út đó. Tiết cuối Thu se se lạnh, trong ngôi
nhà ngõ 45 Phan Đình Phùng,“Người lính già đầu bạc”sống lại
hồi ức “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, rồi trở thành người
nghệ sĩ của quân đội trong hai cuộc kháng chiến.*Vệ Út chiến
đấu trong Liên khu I - Hà NộiÔng Phùng Đệ chào đời ở Trích
Sài (nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội) năm 1933, nhưng cha mất
sớm khi còn quá nhỏ, nên tuổi thơ ông sớm gắn với vùng đất bãi
Phúc Tân, nơi bà cô ruột nuôi ông và cho học việc trong phố.
Tháng 5 năm 1945, thêm một cái tang lớn ập xuống đời ông - Mẹ
mất. Không còn cha mẹ, 12 tuổi, ông đã thấm thía thế nào là cuộc
sống tủi phận, mồ côi, phải tự lập để sống. Chính trong những
ngày đau thương ấy, người anh họ thường dạy ông đóng giày, đã
giảng giải cho ông hiểu, vì sao mà người dân Việt Nam bị khổ
nhục.20 giờ 3 phút ngày 19/12/1946, Hà Nội mở đầu toàn quốc
kháng chiến. 22 giờ, máy bay Pháp thả pháo cháy xuống Phúc
Tân, Long Biên. Cả bờ sông rừng rực lửa cháy. Nhiều gia đình
chạy vào phố cổ và đình Phất Lộc lánh nạn. Giữa quang cảnh ấy,
ông Phùng Đệ đã tìm cách trốn ở lại để “đánh giặc cho sướng”.
Quang cảnh thật sinh động sáng 20/12 của mặt trận Hà Nội hiện
lên qua lời ông kể: tôi trốn bà cô, vào ngõ Gia Ngư-chợ Hàng Bè.
Tự vệ vẫn đang đắp ụ ở phía đầu Cầu Gỗ (trông ra quảng trường
Đông Kinh Nghĩa thục bây giờ). Tôi nhảy luôn vào đào với các
anh. Anh Khoái, trung đội trưởng, hỏi tôi:- Em ở đâu thế?- Em ở
bãi Phúc Tân, bị lạc gia đình rồi. Anh cho em vào chiến đấu với
các anh, làm gì em cũng làm.Sau buổi đào hào, đắp ụ, các anh
báo cáo trường hợp của tôi lên cấp trên và được đồng ý. Tôi bắt
đầu đời chiến sĩ liên lạc khi mới 13 tuổi như vậy đấy. Hôm sau,
ông Vũ Lăng xuống trung đội, ân cần hỏi Phùng Đệ:-Em có biết
nhà Thủy Lâm không?- Em có biết ạ.-Em đi quan sát tình hình
địch, xem chúng bố trí trận địa, đặt súng ở đâu, rồi về báo cáo
cho các anh biết.Hơn 70 năm đã qua, ông Đệ vẫn nhớ như in
cảm giác khi đi trinh sát: Đêm tối, đường phố không còn điện, tối
om. Tôi men qua Hàng Bè, Hàng Dầu, bò dần về phía nhà Thủy
Lâm (nay là trụ sở Sở Văn hóa-Thông tin thành phố Hà Nội).
Cổng nhà Thủy Lâm khóa chặt, tôi nhìn thấy bọn địch lố nhố
trong sân, trên gác, ghi nhớ vị trí đặt súng của chúng, rồi bò về
báo cáo lại. Xong nhiệm vụ, tôi thở phào. Sau đó, ông được các
anh lớn tuổi tin cẩn, cùng với ông Phúc, là trinh sát của đại đội
15, có nhiệm vụ điều tra, nắm tình hình địch. Hàng ngày, cứ
khoảng 6 giờ chiều, ông phải đến từng trung đội và các điểm
chốt, giao khẩu lệnh bí mật của đại đội để tránh việt gian trà trộn.
Ngày nào có khẩu lệnh riêng của ngày đó. Xung quanh Bờ Hồ,
địch chiếm giữ hết các điểm: đền Ngọc Sơn, đền Bà Kiệu, nhà
Thủy Lâm, Bưu Điện, nhà Gô- đa, khách sạn Phú Gia, trụ sở Hội
Khai trí tiến đức (nay là Trung tâm biểu diễn nghệ thuật, ngã ba
Hàng Trống-phố Lê Thái Tổ), nhà Bác ở (số 8 Vua Lê, nay là phố
Lê Thái Tổ), nhà Thủy Tạ… Vậy mà đêm đêm, các chiến vẫn đột
kích địch. Ngay ở quán Tân nghệ sĩ (nay là hiệu sách Bờ Hồ) có
một hỏa điểm, ta giữ vị trí lợi hại này và chốt chặn cả dãy phố
(nay là phố Đinh Tiên Hoàng từ hiệu sách Bờ Hồ đến nhà Hàm
Cá mập).
Ông Phùng Đệ - một Vệ Út của Trung đoàn Thủ đô
năm xưa.Ngày 25/12/1946, bộ khung của ba Tiểu đoàn 101, 102,
103 đã được tổ chức, và ông Đệ thuộc quân trinh sát, liên lạc của
đại đội 15 thuộc Tiểu đoàn 103, làm luôn cả việc giao lệnh của
Tiểu đoàn xuống cho ba đại đội 14, 15, 16. “Bây giờ kể lại, nghe
nhẹ như không, nhưng hồi đó, tôi lọt qua các chốt cao điểm của
nó, có khi cũng rợn tóc gáy chứ. Nó chiếm chốt cao nhất ở số 4
Hàng Dầu, kiểm soát đến tận Mã Mây. Ta và nó cách nhau, có khi
là vài chúc mét, nhưng có khi chỉ một-hai con phố. Tôi tìm cách đi
men theo các đường giao thông hào và ụ đất đắp cao, cũng phải
tinh nhanh thì không bị dính đạn ngay”- ông nói. Ngoài nhiệm vụ
chính như trên, ông còn làm các việc khác như đi tìm xem giếng
nào còn nước? Rồi phục vụ luôn cả chị nuôi khi cần đưa cơm ra
trận địa. Dân để lại cá khô, đường phèn hàng bao tải, mực khô,
tôm khô… còn rất nhiều trong kho; nhưng thiếu nước, thiếu rau
mới thật là khốn khổ. Tìm mãi mới thấy có một giếng ở Hàng
Đào. Anh em phải dè sẻn từng gầu nước dùng cho sinh hoạt tối
thiểu, tắm thì nhịn luôn. May là mùa đông nên cũng đỡ đôi chút.
Dần dần, gạo cũng thiếu, ông lại đi tìm xem nhà dân nào còn gạo
trong hũ, trong chum không, để nuôi nhau.Cuộc chiến đấu anh
hùng, bảo vệ từng góc phố của quân dân Liên khu I hiện lên qua
hồi ức Vệ Út Phùng Đệ năm xưa, nay là cựu chiến binh hơn 80
tuổi, thật sinh động, giúp chúng ta sẽ hiểu rõ hơn sự khốc liệt của
mặt trận Hà Nội ngay giữa trung tâm. Các Gavơ rốt của Hà Nội
thông minh và dũng cảm vô cùng!Ngày 6-1- 1947, Trung đoàn
Liên khu I được thành lập. Sau lễ Quyết tử, ngày 15-1- 1947,
thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương, các chiến sĩ dù
đã rút bớt ra hậu phương, từ 5.600 người xuống còn 1.200
người, trong đó,thiếu nhi có 75 em. Vệ Út Phùng Đệ thuộc tiểu
đoàn 103, vẫn làm chiến sĩ trinh sát, liên lạc của đại đội 15. Ngày
6-2- 1947, cuộc chiến diễn ra ác liệt ở nhà Xô- va, một vị trí rất
quan trọng, án ngữ phía đông Liên khu I. Địch đánh ta bất ngờ và
tràn vào chiếm được nhà Xô va. Tiểu đoàn phó Vũ Lăng hạ lệnh,
lấy lại bằng được vị trí yết hầu này. Lập tức, đại đội 15 cử ông
dẫn một tiểu đội, băng qua khói lửa gấp rút tăng viện. Ông Phùng
Đệ kể rành rọt: Tôi dẫn một tiểu đội của anh Cao Đa (thuộc Đại
đội 15) từ Hàng Bè sang chi viện cho Đại đội trưởng Đại đội 14
Hoàng Viết Điểm. Ta bí mật tiếp cận rồi bất ngờ tấn công địch,
giành lại được vị trí một cách nhanh gọn. Chúng tôi được Đại
tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư khen, thêm phấn khởi bám trụ.17
giờ ngày 17-2, lệnh rút khỏi Liên khu I đưa xuống đại đội. Ông Đệ
làm nhiệm vụ truyền tin, nhưng cũng rất bàng hoàng, xót xa. Ông
kể: Mỗi người được phát phù hiệu riêng, mỗi đại đội phải có dây
vải để mọi người nắm giữ liên lạc với nhau cho khỏi lạc đội hình.
Làm liên lạc nên tôi nhớ như in những việc tưởng như nhỏ nhặt
này. Đại đội 15, tiểu đoàn 103 đi sau cùng. Một trung đội chặn
chốt ở quán Tân nghệ sĩ làm nghi binh, ra sau rốt. Nhưng ra đến
Bãi Giữa, chúng tôi bị lạc nhau, dây vải cũng chẳng còn. Hành
quân suốt đêm, trong lúc chờ thuyền, mệt quá tôi lăn quay ra ngủ
trên bãi ngô, cho đến khi chị Định y tá lay gọi lên đò, tôi mới dụi
mắt, tỉnh dậy, lên thuyền, sang sông.Sau khi sang Xuân Canh, tôi
được biết trung đội đi sau rốt đã không sang được đò. Các anh ở
lại chiến đấu cùng đội Nguyễn Ngọc Nại và hy sinh trên bãi dâu
Tàm Xá. Đây là điều tôi giữ mãi trong lòng, đến nay, kỷ niệm 70
năm Hà Nội mở đầu kháng chiến toàn quốc, tôi thấy cần phải nói
rõ những điều mà bấy lâu, chúng tôi đã không nói được hết. Ông
và tôi đều ngậm ngùi, ắng lặng tràn ngập căn phòng nhỏ! Trong
lịch sử cách mạng của phường Tứ Liên và xã Xuân Canh, nhân
dân đã ghi nhớ các chiến sỹ Trung đoàn Thủ đô hy sinh trong
cuộc tấn công của giặc trên sông Hồng và ngàn dâu Tàm Xá.
Xương cốt các Anh đã hòa vào lòng đất Mẹ chở che.
*Chiến đấu trên mặt trận văn hóa Sau khi rời Hà Nội, lên Việt
Bắc, các Vệ Út được tổ chức lại: những người đủ 15 tuổi được
bổ sung vào các đơn vị chiến đấu; Những người 14 tuổi được tổ
chức thành một trung đội võ trang do ông Đỗ Đình Sửu, vốn là
chiến sĩ quyết tử của trung đội Hàng Bồ-Lãn Ông, phụ trách.
Những người dưới 14 tuổi, được vào đội tuyên truyền, sau đó gọi
là đội Tuyên - Văn, biểu diễn văn nghệ cho bộ đội và nhân dân
nơi đóng quân. Ông Phùng Đệ ở trong đội này cùng các bạn: Lê
Ngọc Canh, Nguyễn Phúc, Trần Việt Minh, Nguyễn Ngọc Sơn,
Trang Công Lũy, Nguyễn Hoán, Nguyễn Văn Lộc, Phạm Đình
Luận... phục vụ bộ đội ngay cả khi đi các chiến dịch Sông Lô,
sông Thao, phố Lu… Năm 1949, sau khi thành lập Sư đoàn 308,
thì cũng tổ chức luôn Đoàn Văn công của sư đoàn. Nét mặt tươi
hẳn lên, khi ông kể sự tích ông bị gọi là cô Đệ: Lúc đó, anh
Lương Ngọc Trác là đoàn trưởng, anh Đào Hồng Cẩm là chính trị
viên. Tôi học thêm môn ghi ta do anh Phạm Ngọc Chương dạy;
nhưng mỗi khi dàn dựng vở kịch, tôi và Nguyễn Ngọc Sơn hay
phải đóng vai nữ nên anh em gọi vui là cô Đệ, cô Sơn. Sau năm
1950, mở thông biên giới, chúng tôi được sang Trung Quốc phục
vụ đoàn đại biểu Chính phủ đi bang giao; nhân cơ hội đó, học
thêm bộ môn múa. Có thể nói, chính chúng tôi, những anh em
đầu tiên được học múa, cũng là những người nòng cốt lập ra bộ
môn múa của Văn công Tổng cục chính trị. Khiêm tốn mà nói, tôi
cũng có đóng góp đôi phần.Lễ mừng chiến thắng Điện Biên Phủ,
sáng sớm ngày 8-5-1954, Đoàn văn công của Sư đoàn 308 được
hát quốc ca hùng tráng giữa núi rừng Điện Biên còn vương mùi
khói súng. Sau đó, các đoàn văn công chuẩn bị đi tiếp quản các
tỉnh thành. Đoàn Tổng cục Chính trị (gọi là Đoàn Tổng cục 1) do
ông Đỗ Nhuận là trưởng đoàn. Đoàn Tổng cục 2, gộp văn công
của các sư đoàn 308, 312, 316, 351 có nhiệm vụ đi tiếp quản Bùi
Chu, Phát Diệm, Nam Định, rồi về Hà Nội. Ông nhớ ngày Hà Nội
hồng tươi cờ đỏ sao vàng trong nắng thu tháng Mười. Chúng tôi
đi xe môtôlôva từ Hà Đông vào nội thành. Đơn vị tôi đóng ở nhà
cạnh bãi đá bóng Măng – gianh (nay là sân gần cổng 19c Hoàng
Diệu). Sau 8 năm xa Hà Nội đi kháng chiến, từ một cậu bé mồ
côi, trở về là anh văn công quân đội, thật hãnh diện vô cùng. Tôi
ở Đoàn Múa của Tổng cục Chính trị đến năm 1959 thì chuyển
sang điện ảnh quân đội.Nghiệp của người nghệ sĩ vận vào ông,
với tâm huyết và ý tưởng sáng tạo. Ông làm đạo diễn, phó đạo
diễn kiêm quay phim trong những năm ở xưởng phim quân đội,
giành được những giải thưởng xuất sắc như Lên đường hành
quân- giải Bông sen Bạc; Võ tay không- giải Bông sen Vàng, tại
Liên hoan phim Việt Nam lần 1 (1970); Phim Những cô gái Đại
đội 3 quân giải phóng và phim Chiến thắng đường Chín- Nam
Lào đều giành giải Bông sen Vàng tại Liên hoan phim quốc tế



