Bài viết

CHUYỆN NGƯỜI ĐƯA CƠM TẠI PÁC BÓ

Đồng Tháp07/05/2026Đoàn bộ phận VKSND tỉnh Đồng Tháp (Đoàn bộ phận VKSND tỉnh Đồng Tháp)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang,

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,

Cuộc đời cách mạng thật là sang”.

(Tức cảnh Pắc Bó - Nguyễn Ái Quốc)

Pác Bó (Cao Bằng), vùng đất lịch sử gắn liền với chặng đường hoạt động cách mạng của Bác Hồ giai đoạn Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nơi đây, núi rừng, bản làng, từng địa danh lịch sử đã in đậm hình ảnh Bác Hồ kính yêu, vị Cha già của dân tộc Việt Nam. Về thăm Pác Bó, trong lòng chúng tôi cảm nhận được hình bóng Bác, dấu chân của Người còn mãi với nơi đây. Về lại nơi đây để nghe những câu chuyện về Người, những nét bút đầu tiên của trang sử chói lọi về Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, trong đó có bà Hoàng Thị Khìn - người đã đưa cơm cho Bác những ngày ở Pác Bó.

Gần trọn một thế kỷ sống giữa núi rừng cách mạng, bà Hoàng Thị Khìn lặng lẽ đi qua cuộc đời mình như một dòng suối nhỏ, âm thầm mà bền bỉ. Đến khi bà về với mây ngàn, người ta mới chợt nhận ra có những con người giản dị mà mang trong mình cả một phần ký ức của lịch sử.

Những câu chuyện của bà luôn bắt đầu từ một thời xa lắm, khi núi rừng Pác Bó còn chìm trong bóng tối của áp bức. Năm 1940, khi bà còn là một cô gái trẻ, cha bà là cụ Hoàng Quốc Long thường đón những “người bạn tồng” về nhà. Đó là những con người đi trong đêm, nói chuyện đến khuya rồi lại rời đi khi trời còn mờ sương.

“Các con phải tuyệt đối trung thành, bảo vệ họ…”

Lời dặn ấy của người cha đã theo bà suốt cả cuộc đời. Bà kể, những ngày đó, cả gia đình sống trong lặng im mà cảnh giác. Quan Tây và lính dõng lùng sục khắp nơi, nhưng trong căn nhà nhỏ, những bước chân cách mạng vẫn được che chở bằng tất cả niềm tin và lòng trung nghĩa.

Rồi một mùa Tết đến, Tết Tân Tỵ năm 1941. Bà vẫn nhớ rõ cái lạnh hôm ấy, lạnh buốt như kim châm. Cha bà thức trắng bên bếp lửa, gương mặt trầm tư, ánh lửa hắt lên như mang theo bao nỗi lo toan. Những ngày Tết, ông cùng các bạn tồng không về nhà, để lại mấy mẹ con ở nhà ruột gan nóng như than bếp.

Một ngày, cha bà trở về cùng ông Lê Quảng Ba. Ông gọi hai chị em bà lại, giọng trầm mà chắc:

“Pá có một người bạn tồng tốt bụng đang ở trên hang đầu nguồn suối Giàng. Hai con nấu cơm mang lên cho ông ấy.”

Bà kể, khi ấy chị em bà vừa lo vừa thương. Trời rét cắt da, núi đá lạnh buốt, thú rừng rình rập, sao người ấy không về nhà mà lại ở trên ấy. Nhưng ánh mắt nghiêm nghị của cha khiến bà không hỏi thêm. Chỉ lặng lẽ làm theo.

Ngày Tết, hai chị em đồ xôi, gói thịt treo trong lá chuối, theo chân ông Lê Quảng Ba men theo suối, băng qua núi đá để đến hang sâu nơi đầu nguồn.

Ở đó, bà gặp “ông Ké”.

Bà vẫn nhớ giọng nói của Người, ấm áp và gần gũi, bằng tiếng Nùng thân thương. Ông hỏi chuyện dân bản, hỏi cái ăn cái mặc, dạy chị em bà những điều giản dị mà sâu sắc. Khi ấy, bà chưa biết ông là ai, chỉ thấy một con người hiền hậu sống giữa núi rừng mà vẫn toát lên sự tin cậy lạ thường.

“Sau này tôi mới biết, ông Ké chính là Bác Hồ…”

Mỗi lần kể đến đây, giọng bà chùng xuống, ánh mắt xa xăm như đang nhìn lại một thời đã khuất.

Từ những bữa cơm giản dị mang lên hang đá, bà Khìn dần bước vào con đường cách mạng. Bà xung phong tiếp tế lương thực, rồi trở thành du kích. Núi rừng Lục Khu, suối nguồn, hang đá đều in dấu chân của một cô gái nhỏ mang trong mình lòng tin lớn.

Ngày 2 tháng 5 năm 1945, bà nghe tin ông Ké sắp rời Pác Bó. Đêm ấy, cả bản không ai ngủ. Người thì khâu áo, người gói cơm nắm, chuẩn bị lương thực cho chuyến đi xa mà không ai biết sẽ kéo dài bao lâu. Sáng hôm sau, trong màn sương mờ, bà cùng dân bản đứng tiễn Người, lòng nghẹn lại mà không nói nên lời.

Mãi về sau, bà mới hiểu đó là chuyến đi gắn với Cách mạng Tháng Tám.

Hòa bình lập lại, bà vẫn ở lại Pác Bó, sống như bao người dân bình dị khác. Nhưng ký ức về những ngày đưa cơm cho Bác, về “ông Ké” giữa núi rừng, chưa bao giờ phai nhạt. Năm 1961, khi Hồ Chí Minh trở lại thăm Pác Bó, bà là một trong những người ra tận đầu bản đón Người. Và năm 1969, khi Bác đi xa, bà lại thay mặt dân bản về Hà Nội để tiễn biệt.

Cả cuộc đời bà không có những lời lớn lao. Chỉ là những câu chuyện mộc mạc, những ký ức giản dị về một con người vĩ đại. Nhưng chính sự giản dị ấy lại làm hiện lên rõ nhất chân dung của Bác, một con người gần gũi, yêu dân và sống như một người dân.

Bà sống như cách bà từng gặp Bác, giản dị, tiết kiệm, tận tụy. Dạy con cháu làm người tử tế, sống có ích, như một cách tiếp nối những điều “ông Ké” từng căn dặn.

Ngày bà về với núi rừng, người dân Pác Bó lặng lẽ tiễn đưa. Không ồn ào, không phô trương. Chỉ có gió núi, mây ngàn và những bước chân chậm rãi.

Bà trở về với đầu nguồn, nơi từng có một người lãnh tụ sống những ngày gian khó.
Và có lẽ, trong miền ký ức sâu thẳm ấy, bà lại được gặp “ông Ké” của mình, như buổi đầu mang cơm lên hang đá năm nào.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn