Chuyện người phụ nữ 2 lần được phong tặng danh hiệu anh hùng
Ở Ngã Năm (Sóc Trăng) có một người phụ nữ 2 lần được phong tặng danh hiệu cao quý là Anh hùng lực lượng vũ trang và Bà Mẹ Việt Nam anh hùng. Người dân địa phương thường gọi bà là má Tám.
Ông Huỳnh Tấn Lịnh - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Mỹ Quới (thị xã Ngã Năm) giới thiệu, má Tám tên thật Huỳnh Thị Tân (sinh năm 1910, mất năm 2005). Lúc còn sống, nghe má nói quê ở vùng Phước Long – Rạch Giá. Năm 1939, má cùng với chồng là ông Nguyễn Văn Thuấn đến lập nghiệp ở làng Mỹ Quới, huyện Thạnh Trị (nay là thị xã Ngã Năm).
Theo lời kể của các cụ cao niên, trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, gia đình má Tám là cơ sở nuôi giấu hàng trăm cán bộ cách mạng và chiến sĩ quân đội. Cách mạng cần gì, má cũng sẵn sàng. Khi cách mạng cần tài chính, cần lương thực, má không quản ngại khó khăn, nguy hiểm, đi vào vùng ven mua lúa và vận động nhân dân ủng hộ quỹ kháng chiến. Kết quả, má mang về cho cách mạng được hơn 40 tấn lúa gạo.
Những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1946), để bảo vệ vùng tự do và bao vây phong tỏa kinh tế, kìm chân địch, quân và dân Ngã Năm chủ trương đắp sông, ngăn đường. Lúc đó, má Tám đã chỉ huy đội quân tóc dài của địa phương tập trung vót chông, phục vụ phong trào chiến tranh du kích vùng cận địch, góp phần làm tổn hại lực lượng của giặc ở Ngã Năm.
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, má Tám tích cực tham gia hoạt động cách mạng với nhiều nhiệm vụ như tiếp tế lương thực, vũ khí, đạn dược cho bộ đội, du kích chiến đấu với kẻ thù, gián tiếp góp phần vào chiến công tiêu diệt hàng trăm tên địch ở các đồn bót tại địa phương. Má còn làm trinh sát theo dõi tình hình địch, cung cấp cho bộ đội, du kích nhiều tin tức quan trọng và kịp thời, góp sức tiêu diệt địch.
Không biết bao nhiêu lần, má dẫn đầu quần chúng đấu tranh chống địch gom dân, bắt lính và đã 4 lần má bị địch bắt, tra tấn dã man nhưng má vẫn giữ vững khí tiết, bảo vệ được bí mật, an toàn cho cách mạng.
Vào tháng 10/1960, một lần má bị địch bắt giam. Sau đó là những trận đòn roi tra khảo rồi lại dụ dỗ suốt 2 tháng trời. Không lung lay được má, bọn chúng buộc lòng phải thả má ra. Hôm đó là ngày 29 Tết. Về đến nhà, Má mới biết người con trai thứ sáu của má là anh Nguyễn Văn Quyền vì nóng lòng trả thù cho mẹ đã gia nhập quân du kích và chỉ hơn một năm sau anh đã hy sinh trong một trận đánh cảm tử vào đồn địch ngay tại quê hương.
Ngày anh Quyền mất, cũng là ngày người con trai thứ tư của má là anh Nguyễn Văn Quận được rút lên tiểu đoàn Phú Lợi, tiểu đoàn chủ lực của tỉnh Sóc Trăng. Hai năm sau anh Quận là Trung đội trưởng. Sau khi anh Quận thoát ly (năm 1961), đến năm 1962, cả 3 người con trai khác của má là anh Nguyễn Văn Nhơn, anh Nguyễn Văn Quẩn và anh Nguyễn Trí Phải và người cháu nội là Nguyễn Văn Vũ (con trai của anh Quẩn) cũng lên đường nhập ngũ.
Người con trai thứ sau hy sinh năm 1962, nỗi đau trong lòng má chưa thể nguôi ngoai nhưng má vẫn vui khi 4 người con trai còn lại và một người cháu nội của má tiếp nối truyền thống của quê hương, gia đình, mang trong lòng “thù nhà nợ nước” lên đường cầm súng chiến đấu bảo vệ, giải phóng quê hương.
Các con đi hết, ở nhà má lại tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng, đấu tranh trực diện với kẻ thù, bất chấp nguy hiểm, khó khăn và luôn mong ngóng tin tức con cháu ở chiến trường. Với nhiều đóng góp cho cách mạng, năm 1971, má Tám được kết nạp vào Đảng.
Thế nhưng, chiến tranh thật khắc nghiệt, liên tục từ năm 1970 đến 1974, các con và cháu của má Tám lần lượt ngã xuống.
Ngày đất nước ca khúc khải hoàn, nhà nhà vui mừng đón đoàn quân chiến thắng trở về, má Tám ngồi lặng lẽ trước bàn thờ của 5 người con trai và một cháu nội…
Khi tôi hỏi về tâm trạng của má khi biết tin con cháu hy sinh, bà Nguyễn Thị Nghĩa (con gái má Tám) nghẹn ngào: “Má vẫn thường nói, đất nước còn nô lệ thì các anh, các cháu phải lên đường cầm súng chiến đấu giải phóng đất nước, quê hương. Cho con cháu lên đường ra nơi chiến trường ác liệt, lòng người mẹ nào mà chẳng lo âu nhưng má vẫn vui, vẫn bằng lòng khi các con và cháu ra trận.
Ngày nghe tin các anh và cháu nội hy sinh, ban ngày thái độ của má rất bình thường nhưng tối đến, má khóc rất nhiều. Đôi lúc tôi tưởng chừng như má sẽ không vượt qua được nỗi đau đó. Đêm đêm nghe má khóc các anh và cháu mà thấy đứt ruột. Những năm tháng đấu tranh với kẻ thù, má tôi rất gan, không bao giờ run sợ, má từng cầm cờ đi đầu trong các cuộc biểu tình, bị bắt, bị tra tấn dã man không hề rơi một giọt nước mắt”.
Năm 1977, Đại hội Anh hùng lực lượng vũ trang được tổ chức ở thủ đô Hà Nội. Trong buổi lễ này, má Tám - Huỳnh Thị Tân đã nói: “Cách mạng tháng Tám đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Đất nước bị chia cắt, chiến tranh chống Mỹ kéo dài, tôi nghĩ là người dân, dù gái hay trai, già hay trẻ, đều phải cầm súng đánh giặc. Con tôi chết đứa này, tôi cho đi đứa khác, còn tôi, nhiệm vụ làm mẹ chiến sĩ, tôi phải để chúng yên tâm chiến đấu cho đến ngày toàn thắng. Đó là con đường duy nhất để sống còn!”. Lời phát biểu xuất phát từ đáy lòng một người mẹ đã khiến cho nhiều người xúc động. Tấm lòng má thật bao la, sự hy sinh của má thật to lớn.
Năm 1978, má Huỳnh Thị Tân được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và được trao tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất. Năm 1994, Má được phong tặng danh hiệu cao quý Bà Mẹ Việt Nam anh hùng. Năm 2013, Má được Nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Còn người con dâu của má là bà Trần Thị Cảnh (vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Quẩn, mẹ liệt sĩ Nguyễn Văn Vũ) được phong tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng năm 2015. Như vậy, mẹ chồng và con dâu đều là Bà Mẹ Việt Nam anh hùng.
Tấm gương của má Huỳnh Thị Tân là một minh chứng cho phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Má Tám mãi mãi là tấm gương sáng ngời và là niềm tự hào của phụ nữ Sóc Trăng nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung, đã hy sinh cả cuộc đời mình cho đất nước, nhân dân.


