Chuyện những người du kính giữ làng
Chuyện những người du kính giữ làng
Chuyện những người du kính giữ làng
Mới đây, chúng tôi đã trở lại căn cứ Đường Trâu xưa (ấp Vĩnh Thuận, xã Thuận Thới, huyện Trà Ôn - Vĩnh Long) để thăm những người du kích từng rất nổi tiếng một thời trong thời kỳ kháng chiến. Đến nơi, gặp ngay lúc các anh du kích năm xưa, Cựu chiến binh bây giờ đang họp mặt Câu lạc bộ 30 tháng 4 Hội Cựu chiến binh xã. Trong khi chờ đợi giờ nghỉ giải lao để gặp mặt những người du kích năm xưa ấy, tôi mon men theo con đường đan tầm vài trăm mét, rẽ trái là đến ngọn Đường Trâu - Khu căn cứ xưa - giờ là xóm nhà, vườn cam oằn sai trái. Đường Trâu là tên gọi của một con rạch xưa do đường trâu đi mà hình thành nên địa danh. Đây cũng là nơi diễn ra cuộc họp để công bố Quyết định thành lập đơn vị Trung đoàn 3 (Sư đoàn 330 - Quân khu 9) vào ngày 20/04/1968 (tại nhà bác Năm Minh).
Chạy qua con đường ấy một đoạn không xa, ngay khi vừa qua khỏi Trung tâm văn hóa xã, tôi thấy tấm bảng đề dòng chữ: “Cầu Đình Thuận Thới”. Theo tư liệu của những người viết sử địa phương kể lại, ở nơi Cầu Đình nầy, xưa kia (khoảng tháng 4/1946) thực dân Pháp cho xây bót Cầu Đình. Đây được xem là một trong những bót điển hình, có vị trí quan trọng chốt chặn trên tuyến đường thủy, liên thông các xã trong và ngoài huyện, (còn bót Cống Đá chốt chặn trên tuyến giao thông bộ). Bót nằm trên một gò cao khoảng 2 m (so với đường đi) phía dưới có giao thông hào sâu khoảng 2 m bao quanh gò. Trên đỉnh gò có 3 lô cốt cao ở ba góc (hình tam giác), có 12 ụ quan sát và chiến đấu (mỗi lô cốt có 4 ụ quan sát), dưới gò có 4 ụ kẽm gai được gài mìn bảo vệ xung quanh. Sau khi xây dựng bót Cầu Đình, thực dân Pháp đưa quân càn quét hai bên rạch Đường Trâu, bắn chết trâu bò, bắt người đánh đập rất dã man...
Trước tình hình đó, ngày 30/4/1947 xã Thuận Thới đã tổ chức họp dân quân chính ở đình Thuận Thới (cách Cầu Đình khoảng 5 km) và đề ra nghị quyết tập trung củng cố lại các tổ chức, chuẩn bị các đoàn thể, mặt trận, Ủy ban kháng chiến xã, hình thành 1 tiểu đội tự vệ xã, ở mỗi ấp cũng có 1 tiểu đội. Các đội tự vệ có nhiệm vụ tổ chức canh gác, quấy rối địch, đưa phong trào cách mạng ngày càng phát triển mạnh hơn.
Như rất nhiều đội tự vệ ngày xưa, đội du kích ngày nay, sau phong trào Đồng khởi 1960, toàn dân vũ trang kháng chiến, Đội du kích Thuận Thới đã chiến đấu cầm cự với địch trong nhiều năm. Với tương quan lực lượng giữa ta và địch vào khoảng 1/10 hoặc 1/15, trong điều kiện bị địch thường xuyên tìm diệt, đánh phá, trong khi vũ khí của ta vừa thô sơ vừa ít ỏi, nên du kích tồn tại được là nhờ nảy sinh ra nhiều “cách đánh” rất sáng tạo và độc đáo như trong việc bố trí hầm chông và hố đinh, đây là loại vũ khí thô sơ nhưng bất cứ người dân nào cũng làm được để đánh giặc.
Hầm chông thì đào sâu chừng quá ngực tới cần cổ, bề rộng chừng 8 tấc, bề dài chừng 1,2 m, bên dưới đặt một bàn nhiều cây chông bằng tre vót nhọn hoặc bằng sắt có ngạnh. Vị trí đào hầm chông được chọn nơi địch sẽ đi qua hoặc sẽ vào chỗ đó như nơi treo kẻng, khẩu hiệu…Khi địch càn, ta ngụy trang mặt hầm như đất thường, thế là chúng lọt xuống hầm những cây chông đâm vào chân vào háng nhất là gặp chông sắt có ngạnh địch không cách nào cưa được phải khiêng cả người cùng cái bàn chông đi đến nơi có điều kiện để cưa cây chông. Chỉ vài trường hợp như vậy, địch không dám càn tiếp mà phải rút lui.
Hố đinh là hố có những cây đinh dài hơn một tấc, được gắn vào miếng gỗ lớn hơn bàn chân, hố đặt bàn đinh này chỉ sâu tới quá đầu gối được đào và đặt nơi địch sẽ đi qua. Khi chúng đi sẽ sụp chân xuống hố các cây đinh đâm vào bàn chân, bị thương không thể đi tiếp được nên cũng lui quân.
Thấy tiện đường tôi ghé thăm gia đình chị Nguyễn Thị Nga, ở ấp Vĩnh Thuận. Năm nay chị 74 tuổi, là vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Quang (Hai Quang), nguyên Xã đội trưởng xã Thuận Thới, hy sinh ngày 11 tháng 2 năm 1973, do bị địch phục kích. Chị kể: Tuy đã qua hơn 51 năm kể từ ngày anh Quang - chồng chị, hy sinh, nhưng chị vẫn không quên được cái ngày mà Chi bộ xã tổ chức tang lễ cho anh. Chị nhớ mồn một những con số cụ thể được nêu trong điếu văn tại Lễ truy điệu anh Quang, do đồng chí Nguyễn Văn Điều (Ba Điều), Chính trị viên xã đội, đọc là: “…nói về bắn tỉa và gài mìn, lựu đạn, thì đồng chí Xã đội trưởng Nguyễn Văn Quang đã làm chết và bị thương 380 tên địch”… Đây quả là thành tích rất ấn tượng. Hỏi về nguồn mìn, lựu đạn từ đâu mà có? Chị Nga cho biết, là do anh Ba Đế (anh ruột thứ ba của chị), cùng với anh Tám Tượng (người bà con), cả hai đều bị bắt lính tham giả vào lính nghĩa quân chế độ cũ, đóng ở bót Cống Đá (Thuận Thới) “tuồn” ra cho anh Quang. Cứ một tuần, hơn tuần là anh về “chòi” thăm vợ, con là có mang theo một bao lựu đạn (bao đựng cát) để dưới gầm giường và cứ đều đặn như vậy từ tuần này sang tuần khác. Có lần về thăm nhà, thấy trên sống lưng anh có một vết miểng đạn còn rướm máu, chị lo lắng hỏi anh gài lựu đạn “bất cẩn” bị nổ trúng miểng bị thương hay gì? Anh nói “trớ” do chuột chạy vướng dây làm lựu đạn nổ. Rồi anh trấn an vợ: “Chỉ ngoài da thôi mà”.
Chị lo cũng phải. Vì trong chiến tranh, anh em mình cũng đã từng bị đạp mìn, mặc dù đã biết trước 100% là đoạn đường đó địch có gài mìn, một phần cũng vì chủ quan, ỷ lại là kinh nghiệm bao nhiêu năm chiến đấu, nhiều lần phát hiện và tránh được mìn nên quá tự tin vào mình. Trên con đường đất, biết chắc thế nào địch cũng gài mìn đạp nổ. Anh em nhìn thấy có dấu vết bánh chiếc xe đạp đi qua, nên chắc chắn bước chân đúng theo lằn bánh xe đạp là an toàn vì nếu có mìn thì xe đạp đã làm nổ. Vậy mà đi được một đoạn thì nổ mìn. Anh em mình đã bị địch nó lừa, sau khi chôn mìn trong đất chúng lấy vỏ xe đạp lăn nhẹ trên trái mìn để lừa anh em ta, tưởng là đã có chiếc xe đạp chạy qua. Cái nghề nầy anh em mình phải rút kinh nghiệm từ người khác là vậy, khi mình sai lầm thì chỉ còn người khác rút kinh nghiệm qua cái chết của mình thôi.
***
49 năm đã qua đi kể từ khi kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ. Thời gian đã làm những người du kích đầu xanh tuổi trẻ năm xưa trở thành những ông chú, ông bác tóc muối pha sương. Chuyện nhớ chuyện quên, song tinh thần một thời cầm súng chiến đấu giúp nước giữ làng thì trong ký ức của họ không hề mờ phai.
Gặp anh Ba Điều (Nguyễn Văn Điều) nguyên Chính trị viên xã đội, tại điểm sinh hoạt Câu lạc bộ 30 tháng 4 - Hội Cựu chiến binh xã, tôi đem câu chuyện “Xã đội trưởng Nguyễn Văn Quang (Hai Quang) đã xạ kích (bắn tỉa) và gài bẫy mìn, lựu đạn làm chết và bị thương 380 tên địch” và hỏi ông về thành tích của người Xã đội trưởng nầy, được anh trả lời là: đồng chí ấy nổi tiếng khắp vùng về sự dũng cảm, kiên cường và những mẹo đánh giặc đặc sắc. Quang gài mìn rất đơn giản, nhưng đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh du kích, phù hợp với từng tình huống. Trong chiến tranh chống Mỹ các loại lựu đạn hay được sử dụng như: lựu đạn chày Trung Quốc, lựu đạn cầu Quân khu 7, lựu đạn M-26, sau nầy quân đội Mỹ cải tiến sử dụng phổ biến trong chiến tranh Việt Nam là lựu đạn M-67 (còn gọi lựu đạn da láng). Những năm cuối cuộc chiến tranh Mỹ tiếp tục sản xuất loại lựu đạn nhỏ hơn ký hiệu V40, chỉ nặng 136 gam, còn gọi lựu đạn mi ni…, nhưng anh em du kích Thuận Thới, tiêu biểu anh Quang, thường dùng trái lựu đạn M-67 (có trọng lượng chỉ khoảng 400 g, nhưng bán kính sát thương có thể lên đến 14 m) để gài, đơn giản chỉ cần rút chốt để nhè nhẹ cho nó tự nằm đè lên mỏ vịt là được. Địch chỉ cần đụng nhẹ, trái lựu đạn lăn qua một bên là coi như kích hỏa, 5 giây sau là nổ. Để cho địch dễ làm ngả trái lựu đạn, Quang cũng như anh em du kích sau khi rút chốt rồi lại lấy nhánh cây gai (loại cây gai mõ ó) đậy lên trái lựu đạn, ban đêm địch mò vào chỉ cần móc nhẹ vào gai là nó lôi ngả trái liền mà chúng không hề hay biết. Hoặc là gài bên đường hẹp rồi lấy dây cột vào chốt bi, đầu dây kia cột vào một cành cây khô, cây gai, địch đi đến chỉ thấy cành cây khô mà không thấy sợi dây căng ngang đường, chúng chỉ cần đá vào chà cây khô hoặc thấy vật cản đường chúng lượm vất đi là dính…bẫy.
Ngoài anh Hai Quang, xã đội trưởng đã hy sinh, còn có anh Nguyễn Văn Hoàng (Hai Hoàng) nguyên xã đội trưởng kế nhiệm sau khi ông Quang hy sinh, đã nhiều lần chạm trán với địch. Anh nhận thấy địch rất hung hãn, nhưng thường chủ quan, thiếu suy xét khi hành động. Vì vậy, anh cùng du kích Thuận Thới đã hoán cải lựu đạn M-67 (lựu đạn da láng để đánh địch). Có lần, anh dùng 7 trái lựu đạn đã tháo bỏ đoạn cháy chậm để khi rút chốt là nổ ngay, vứt bừa bãi ở một khoảng đất trống. Sau đó anh dùng nhiều loại dép giậm quanh để tạo dấu vết rồi quay về nhà. Sáng hôm sau, địch đi tuần tra, thấy dấu chân và lựu đạn bỏ vương vãi, cho là bộ đội chủ lực về và làm rớt lựu đạn ở đây. Chúng chủ quan lượm lựu đạn đem đi đánh cá, nhưng vừa rút chốt là lựu đạn nổ tức thì, khiến nhiều tên bỏ mạng.
Ngoài đẳng cấp đánh mìn, gài lựu đạn, đội du kích Thuận Thới còn thực hiện nhiều trận đánh làm giặc thất kinh bát đảo. Với lối đánh du kích, các anh, các chú thường đưa giặc vào thế bất ngờ, bị động, từng bước tiêu diệt sinh lực địch. Điển hình là trận đánh kiên cường bám trụ, chống càn để bảo vệ căn cứ và 800 giạ lúa của Trung đoàn Bộ binh 3, ở ấp Vĩnh Thuận, ngày 05/06/1974. Ông Nguyễn Văn Một, nguyên xã đội phó, cho biết: Nhận được tin địch sẽ đưa Tiểu đoàn 520 (Vĩnh Long), có cả 02 Chi đội thiết giáp M-113 (đóng quân ở Càng Long) lên yểm trợ, chúng chia thành nhiều hướng tiến công càn quét hòng chiếm kho lương thực của Trung đoàn 3 ở tại nhà ông Chín Ngói, ấp Vĩnh Thuận. Đội du kích xã tiến hành gài 3 bãi mìn ở 3 hướng, đồng thời triển khai đội hình chiến đấu với 6 đồng chí gồm: Ba Điều (Phó bí thư chi bộ); Ba Tới (chính trị viên xã đội); Hai Hoàng (xã đội phó); Hai Một (xã đội phó); Ba Tự (ấp đội trưởng) và Năm Hái (Y tá), chia thành ba mũi chống trận càn của địch. Với tinh thần chiến đấu ngoan cường, gan dạ, mưu trí của lực lượng du kích, qua hơn 7 giờ chiến đấu ác liệt (từ 9 giờ sáng đến 16 giờ chiều), địch không vào được trận địa của ta, cuối cùng buộc chúng phải rút lui, ta bảo vệ thành công căn cứ và an toàn 800 giạ lúa mà đơn vị này chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử mùa xuân năm 1975.
Trong những trận càn, nhiều binh lính của chính quyền Sài Gòn cũ, vẫn nói với nhau rằng: “Đi một bước nữa có thể là bước đi cuối cùng của đời mình!”. Bởi vì: Chúng có thể bị sụp xuống hầm chông và hậu quả thì từ chết tới bị thương. Trên những con đường làng êm ả của làng quê, hằng ngày người dân đi làm đồng, đi chợ, đi bắt cá,…rất đỗi bình thường. Nhưng tới khi quân lính (Sài Gòn cũ) đi càn thì con đường ấy lại trở thành con đường xuống…“địa ngục”. Vì nó đầy rẫy những cạm bẫy không lường trước được. Đó là những hầm chông, bãi mìn được bố trí ở khắp nơi. Từ câu chuyện nầy, tôi nhớ đến một cảnh trong phim Biệt Động Sài Gòn, một toán lính Mỹ đi càn ở Củ Chi, có một tên bị rơi xuống hầm chông đau đớn kêu cứu trong tuyệt vọng:“Help me! Help me!” (Cứu tôi! Cứu tôi!). Nhưng những tên đồng bọn của hắn dù không bị rơi xuống hầm chông nhưng cũng hoảng sợ cực độ, quay súng bỏ chạy với sự bất lực “No…! No…! I can’t” (Không! Không! Tôi không thể!). Một đội quân Mỹ được trang bị vũ khí tối tân hiện đại nhưng phải bỏ chạy trước hầm chông đơn giản của dân quân du kích. Thấy tự hào làm sao dân tộc ta, một dân tộc bình dị nhưng rất đỗi anh hùng.
***
…Mới đó mà gần 50 năm đã qua đi. Kết thúc cuộc kháng chiến gian khổ kéo dài suốt 21 năm, phần lớn những người du kích lại trở về với ruộng vườn, tay cày chân đất. Họ tiếp tục sống một cuộc đời giản dị, thanh sạch, âm thầm góp phần xây dựng và gìn giữ sự ổn định của xã hội: “Hòa vào trời đất mà xanh/ Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân
Cho đến nay, ngoài lịch sử hình thành và phát triển được viết chung cho các địa phương, ở Vĩnh Long chưa có những tổng kết, những nghiên cứu, đánh giá chính thức về cuộc chiến tranh du kích, song, những công lao và đóng góp, những hy sinh và máu xương của họ sẽ mãi mãi được khắc ghi giữa những trang sử viết về thời chiến, mãi mãi được nhớ ghi, lưu truyền trong ký ức làng quê.
Du kích cầm súng giữ làng - Họ chính là những chiến sĩ vệ quốc thời khắc gian nguy.


