CHUYỆN Ở HAWWAI
Khi đoàn rời khách sạn để xuất cảnh, Giám đốc và Ban quản lý khách sạn Hilton Hawaiian Village đã đứng xếp hàng, kéo dài từ cầu thang ra đến cửa Giám đốc khách sạn, chính thức gửi lời xin lỗi và lời chào tạm biệt cùng quà tặng tới phái đoàn Việt Nam. Không những thế, họ còn chuyển cho tôi một thư xin lỗi viết bằng văn bản, mong tôi thứ lỗi cho sự sơ xuất của khách sạn. Họ cũng cung cấp cho chúng tôi một bản sao báo cáo về những điều tra liên quan đến vụ việc xảy ra ở phòng tôi. Trong suy nghĩ của tôi lúc đó, có thể khách sạn không biết gì đến sự việc này.
Đoàn Việt Nam đã đặt vấn đề với Trung tướng Needham về công tác an ninh tại Hoa Kỳ không đảm bảo. Tài sản, và có lẽ cả tính mạng của đoàn khách quốc tế đã bị đe doạ nghiêm trọng. Thay mặt đoàn Việt Nam, Thứ trưởng Lê Mai cũng có lời nhắc nhở với khách sạn, cho rằng dịch vụ rất tốt nhưng an ninh không đảm bảo. Phía Mỹ ghi nhận.
Khi về nước được khoảng một tuần thì tôi nhận được thư của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ gửi tới, bày tỏ lời xin lỗi về sự kiện ở khách sạn, mong tôi thông cảm.
Tôi đã không quá ngạc nhiên trước các sự việc đã xảy ra trong chuyến công tác. Với kinh nghiệm nghề nghiệp, tôi lường trước được những khả năng này. Nhờ kinh nghiệm nghề nghiệp, tôi đã đánh lạc hướng được phiên dịch viên để bí mật quay trở lại phòng và đã sớm phát hiện sự việc. Nếu tôi say sưa đi mua sắm, thì đã để lỡ mất thời cơ quý giá đó.
Qua sự việc này, tôi nhận thấy, chẳng ai thật lòng với ai. Rất có thể sự việc có liên quan tới hoạt động của một cơ quan nào đó của phía Mỹ, nhưng họ đã chủ quan, nên đã không thực hiện trọn vẹn kế hoạch.
Đây cũng là bài học cho các đồng chí đi công tác nước ngoài, nhất là các nước đang có mối quan hệ chưa thân thiện với Việt Nam. Những người giữ trọng trách cần đề phòng mọi trường hợp xấu nhất có thể xảy ra mà mình không phát hiện được.
Sau chuyến đi, đồng chí Lê Mai đã thay mặt đoàn báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ đã báo cáo lên Bộ Chính trị. Trong các cuộc họp vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, nhất là những ý kiến phản biện cho rằng lính Mỹ đã gây nhiều tội ác trên đất Việt Nam, nếu Chính phủ đồng ý hỗ trợ tìm kiếm hài cốt lính Mỹ, thì có thể gây ra những phản ứng trái chiều trong nhân dân. Chúng tôi cũng đồng tinh với quan điểm này, vì chiến tranh chưa qua lâu, nỗi đau mất mát và sự căm hờn trong nhân dân vẫn còn sôi sục.
Song qua làm việc trực tiếp với phía Mỹ, chúng tôi thấy, mỗi gia đình có con em thiệt mạng trong chiến tranh cũng phải chịu những đau khổ, mất mát. Gia đình họ mong muốn có được hài cốt của con em họ để mai táng. Đó là nhu cầu mang tính nhân đạo.
Mặt khác, phía Mỹ đã chuyển tải thông tin về vấn đề POW/MIA là một trong những điều kiện để Chính phủ Hoa Kỳ thuyết phục Quốc hội và Hội Cựu chiến binh Mỹ, Hội Gia đình có người Mỹ mất tích, ủng hộ bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Đây là một yếu tố quan trọng mà nếu khơi thông được, thì sẽ tạo ra tác động rất lớn, khiến Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận, thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
Xuất phát từ yêu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ về vấn đề nhân đạo, đoàn công tác kiến nghị Thủ tướng Chính phủ thiết lập thoả thuận hợp tác POW/MIA với Hoa Kỳ, cho phép họ tham gia tìm kiếm hài cốt lính Mỹ tại Việt Nam. Sự chấp thuận của Chính phủ đã mở đường cho mối quan hệ hợp tác đầu tiên giữa Mỹ và Việt Nam kể từ khi kết thúc chiến tranh (1975), kết quả các cuộc khai quật hài cốt Mỹ đã góp phần để hai năm sau, vào ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Đây là một dấu ấn lịch sử có sự góp sức không nhỏ của phái đoàn ngoại giao trong chuyến công tác Hawaii đáng nhớ ấy.■



