Bài viết

Chuyện tàu C-235 huyền thoại và bức ảnh “Năm chiến sĩ còn lại”

Gia Lai16/05/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chuyện tàu C-235 huyền thoại và bức ảnh “Năm chiến sĩ còn lại”Trong lần Đoàn cựu chiến binh “đoàn tàu không số” tham quan Bảo tàng Hải quân nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961-23/10/2021), tôi được gặp Trung tá, cựu chiến binh Lê Duy Mai, một trong năm người chiến sĩ còn sống sót trở về của tàu C-235 huyền thoại. Xúc động khi ngắm nhìn lại bức ảnh “Năm chiến sĩ còn lại của tàu C-235” (số đăng ký BTHQ 2042),ông đã kể cho tôi[1]nghe câu chuyện về hành trình vượt biển cùng con tàu C-235 vận chuyển vũ khí chi viện chiến trường miền Nam.

Không phải lần đầu tiên đến tham quan Bảo tàng Hải quân, song mỗi lần được nhìn lại những kỷ vật một thời lại mang tới cảm xúc đặc biệt với cựu chiến binh Lê Duy Mai. Đôi mắt đăm đăm hướng về phía bức ảnh đang trưng bày tại bảo tàng, ông chia sẻ: “Tháng 6/1963, tôi tốt nghiệp Khoa Cơ điện Trường Trung cấp Hàng hải Việt Nam và được điều về Xí nghiệp Quốc doanh đánh cá Lạch Bạng (huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa). Tháng 2/1964, tôi nhập ngũ, trở thành người lính Hải quân và được biên chế về Đoàn 125 Hải quân. Sau thời gian huấn luyện, chúng tôi được lệnh lên đường vận chuyển vũ khí chi viện cho miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, tàu C-235 được lệnh sẽ cập bến Hòn Hèo, tỉnh Khánh Hòa. Ngày 06/02/1968, lúc 18 giờ 30 phút, tàu C-235 bao gồm 21 cán bộ, chiến sĩ do Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và Chính trị viên Nguyễn Tương chỉ huy bắt đầu rời cảng tại căn cứ A2 (Hậu Thủy, Trung Quốc). Cùng đi có đồng chí Đoàn Văn Nhi - Thuyền phó 1; Võ Tá Tu - Thuyền phó 2; Trương Văn Mùi – Máy trưởng; Ngô Văn Thứ, Trần Lộc, Nguyễn Minh Hải, Vũ Long An - Thợ máy; Doãn Quang Ruyện, Phạm Trường Nam - Báo vụ; Trần Thọ Thuyết – Ra-đa; Lâm Quang Tuyến, Mai Văn Khung – Hàng hải; Hoàng Văn Hòa - Y tá; Nguyễn Văn Dưỡng - Cơ yếu; Nguyễn Văn Phong, Đào Quang Ty, Ngô Dầu, Hà Minh Thật - Thủy thủ; và tôi Lê Duy Mai - Thợ điện. Những chiến sĩ của tàu C-235 đã thành một gia đình, cùng ăn, cùng ở, cùng chiến đấu với biết bao kỷ niệm đẹp đẽ nhưng cũng đầy bi hùng. Sau 4 ngày lênh đênh trên biển, khi còn cách bờ 38 hải lý, tàu chúng tôi bị tàu chiến và máy bay địch bám theo. Mặc dù đã nghi binh, đánh lừa nhưng chúng vẫn theo bám không rời. 12 giờ ngày 11/02, tàu chúng tôi phải quay về cảng A5 (đóng tại Hải Khẩu, Trung Quốc). Tại đây, tàu chúng tôi được sơn màu khác và thay biển số mới. Bức ảnh “Năm chiến sĩ còn lại của tàu C-235” hiện được trưng bày trang trọng tại Bảo tàng Hải quân. (Từ trái sang phải, lần lượt là các đồng chí Nguyễn Văn Phong, Lê Duy Mai, Vũ Long An, Lâm Quang Tuyến, Hà Minh Thật). Ảnh: BTHQ. Đêm 27/02/1968, tàu tiếp tục rời bến. Trước hôm đi, đồng chí Ngô Dầu bị viêm phổi phải nằm viện, nên trong chuyến công tác đặc biệt này, đoàn chỉ còn 20 người. Sau 2 ngày 2 đêm hành trình trên vùng biển quốc tế, đến ngày 29/02, tàu ở ngang vùng biển Nha Trang. 18 giờ, một máy bay trinh sát của địch bay ngang qua, chúng tôi vẫn tiếp tục hành trình theo tuyến đi và chuyển hướng vào bờ. Lúc 22 giờ 30 phút, tàu cách bờ khoảng 19 hải lý. Phát hiện ra tàu của ta, tàu chiến địch tổ chức bao vây. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh ra lệnh anh em tắt hết đèn và tiếp tục hành trình vào bến. Cùng lúc, các tàu địch cũng tắt tất cả các loại đèn, lặng lẽ phục kích đợi tàu ta đi vào. Lợi dụng tình thế, anh Vinh chỉ huy tàu luồn lách qua đội hình địch và vào được bến phía xã Ninh Phước. Sau đó, Thuyền trưởng Nguyên Phan Vinh ra lệnh đánh tín hiệu xin thả hàng. Đèn tín hiệu xin thả hàng phát đi: 1 chớp, 2 chớp, 3 chớp rồi 4 chớp vẫn không thấy tín hiệu của bến trả lời. Tình hình rất khẩn trương và căng thẳng. Chúng tôi lại bị tàu địch phát hiện và ngày càng tiến gần hơn, nếu chậm trễ, việc thả hàng có nguy cơ bị lộ. Trong tình thế cấp bách, chúng tôi quyết định thả các bao hàng xuống nước để bến sẽ đến vớt sau. Vì nếu không thả được hàng thì khi tình huống nguy cấp buộc phải nổ bộc phá hủy tàu, toàn bộ 16 tấn hàng trên tàu cũng phát nổ và hư hỏng. Khoảng 2 giờ 20 phút, phát hiện tàu chúng tôi đang ở gần bờ, địch lập tức nổ súng. Chúng bắn đạn cỡ lớn chặn phía trên bờ, ngăn chặn hòng không cho anh em tôi chạy thoát; đồng thời, dùng các loại súng nhỏ bắn thẳng vào tiêu diệt tàu chúng tôi. Mấy phút sau, chúng lại cho máy bay đến thả pháo sáng, có 7 chiếc tàu địch đang bao vây. Trong tình thế đó, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh vẫn bình tĩnh chỉ huy chúng tôi vừa chiến đấu, vừa điều khiển tàu chạy vào sát bờ. Hai thủy thủ Hà Minh Thật và Nguyễn Văn Phong hướng khẩu ĐKZ và 14,5mm về phía tàu địch liên tiến khai hỏa khiến chúng không dám vào gần hơn. Sau 1 hồi chiến đấu, 5 đồng đội tôi đã hy sinh và 7 người khác bị thương, trong đó có 2 người bị thương nặng. Thuyền trưởng Vinh cũng bị thương ở đầu nhưng anh vẫn bình tĩnh hô lớn: “Chúng ta sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Chuẩn bị phương án hai!”. Tức là cảm tử, phá vòng vây, dùng tốc độ đề vượt ra khơi. Nếu không thoát được, chúng tôi sẽ cho tàu lao vào quân cảng của địch ở Nha Trang để nổ tàu phá cảng; hoặc không thì lao thẳng vào tàu địch rồi cho nổ bộc phá, tiêu diệt luôn cả tàu của chúng. Nhưng tàu chưa kịp quay mũi ra hướng biển thì khoang máy bị trúng đạn, máy hỏng, không thể cơ động được nữa. Các đồng chí bị thương và những người không có nhiệm vụ giật bộc phá được rời tàu bằng xuồng cao su do tôi bơm hơi, chuẩn bị sẵn. Dưới sự chỉ huy của Thuyền trưởng, tôi cùng các đồng chí Hà Minh Thật, Vũ Long An vào vị trí chuẩn bị các loại kíp. Sau đó, Thuyền trưởng Vinh đi kiểm tra lại lần cuối, rồi lệnh điểm hỏa hủy tàu và bơi vào bờ.
Đồng chí Trung tá Lê Duy Mai cùng tác giả bài viết trong chuyến tham quan Bảo tàng Hải quân, năm 2018. Ảnh: Lê Thanh Hằng. Hơn chục phút sau, trên mặt biển bùng lên một cột lửa khổng lồ kèm theo một tiếng nổ dữ dội, chấn động cả một vùng biển. Sức công phá của khối thuốc nổ còn khiến một phần thân tàu văng lên lưng chừng núi Bà Nam. Ngay lập tức, địch gọi máy bay đến bắn phá dọc ven biển, hỗ trợ cho tàu đổ bộ tổ chức vây bắt chúng tôi. Cuộc chiến diễn ra không cân sức, lực lượng và hỏa lực địch quá mạnh khiến nhiều đồng đội hy sinh, số còn lại gắng sức bơi vào bờ. Vào tới bờ, chúng tôi gặp nhau và chia thành 2 nhóm leo núi để tránh địch đổ quân cắm chốt vây càn. Nhóm của chúng tôi có 7 người gồm các đồng chí: Đoàn Văn Nhi, Vũ Long An, Hà Minh Thật, Lâm Quang Tuyến, Nguyễn Văn Phong, Mai Văn Khung và tôi - Lê Duy Mai. Nhóm còn lại là Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và anh Ngô Văn Thứ ngày hôm sau gặp địch chiến đấu và hy sinh. Bảy người chúng tôi dìu nhau vòng tránh địch lùng sục, không lương thực, không nước uống, ai nấy đều kiệt quệ. Suốt 13 ngày đêm, chúng tôi chịu đựng đói khát. Tất cả khẩu phần lương thực và thuốc men mà 7 người chúng tôi có lúc đó là 120 viên sinh tố poly. Chúng tôi chia nhau theo khẩu phần, người bị thương nặng thì 4 viên, người bị thương nhẹ thì 2 viên mỗi ngày. Chúng tôi tìm quả cây rừng, ăn ốc sên, ăn kiến, ăn còng, uống nước trong hốc cây... để tìm bến, tìm người của ta. Tôi còn nhớ rất rõ lần cả nhóm tìm thấy một hốc nước trong gốc cây to, nhưng nước khá sâu trong hốc mà không có cách nào hút lên để uống. Cuối cùng, mấy anh em cởi áo ra, nhét ống tay áo vào hốc nước cho ướt đẫm rồi kéo lên, lần lượt từng người há miệng, ngửa cổ, vắt ống tay áo đẫm nước thành từng giọt chảy xuống họng. Trong một lần đi tìm nước uống, đồng chí Hà Minh Thật không trở về. Rồi trong một lần khác, đồng chí Mai Văn Khung cũng không quay trở lại, rồi đến lượt Thuyền phó Đoàn Văn Nhi cũng hy sinh. Đến đêm thứ 13, chúng tôi phát hiện có 1 người đang thả lưới ven biển. Cả nhóm 4 người bàn nhau tìm cách bắt sống người thả lưới để khai thác, hỏi đường. Bốn người chúng tôi phân công nhau: Đồng chí Nguyễn Văn Phong và Lâm Quang Tuyến trên bờ yểm trợ, còn tôi và đồng chí Vũ Long An lội xuống biển để bắt người thả lưới. Thật may mắn, người thả lưới lại là người của bến được cử đi kiểm cá cải thiện bữa ăn; đồng thời, dò la tin tức về các chiến sĩ của tàu C-235. Cả 4 chúng tôi được người của bến đưa về căn cứ và được đãi một bữa cháo gà rừng nhớ đời sau 13 ngày đói khát đến cùng cực. Thêm một niềm vui lớn hơn nữa là tại đây chúng tôi gặp lại được đồng chí Hà Minh Thật (người đi lạc mấy hôm trước cũng đã tìm được về căn cứ, còn đồng chí Mai Văn Khung thì bị địch bắt và được trả tự do sau Hiệp định Pari năm 1973). Năm anh em chúng tôi được người của bến chụp bức ảnh làm kỷ niệm sau khi quay trở lại đơn vị nhận nhiệm vụ mới”. Bức ảnh “Năm chiến sĩ còn lại của tàu C-235” được Bảo tàng Hải quân sưu tầm đã từ rất lâu. Tiếc rằng, do điều kiện khó khăn nên những thông tin về người sưu tầm, thời gian sưu tầm hay người đặt tên bức ảnh đều không cụ thể. May mắn những nhân chứng lịch sử của tàu C-235 như cựu chiến binh Lê Duy Mai đã giúp cán bộ Bảo tàng Hải quân tìm hiểu thêm những câu chuyện bi hùng xung quanh tấm ảnh lịch sử này, từ đó có thêm thông tin quý báu để tuyên truyền tới đông đảo công chúng tham quan. Chỉ tay vào Bức ảnh đang được trưng bày trang trọng trong phần Mở đường Hồ Chí Minh trên biển vận chuyển vũ khí chi viện chiến trường miền Nam (1961-1975) tại Bảo tàng Hải quân, đồng chí Lê Duy Mai trầm buồn: “Xót xa lắm vì đồng đội tôi đã mãi mãi không về, máu của các anh đã hòa vào sóng nước biển Đông! Nhưng cũng tự hào lắm! Vì họ đã “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”; họ sẽ mãi là niềm tự hào, là tấm gương cho các thế hệ hôm nay sẵn sàng bảo vệ, giữ vững chủ quyển biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc”./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn