Bài viết

Chuyến tàu đưa người bác sĩ từ Paris về với nền y học kháng chiến

Tháng 9 năm 1946, bác sĩ Trần Hữu Tước rời bỏ vị trí và cuộc sống sung túc tại Paris, cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tàu Dumont d’Urville trở về Việt Nam. Chỉ ít tuần sau, ông đứng trên giảng đường y khoa giữa lúc xe bọc thép Pháp đã xuất hiện ngoài phố.

Hà Nội22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 9 năm 1946, tại quân cảng Toulon ở miền Nam nước Pháp, bác sĩ Trần Hữu Tước bước lên chiếc thông báo hạm Dumont d’Urville. Sau hơn mười ba năm học tập và làm việc tại Pháp, ông đang bắt đầu hành trình trở về Việt Nam.

Ông không trở về để thăm nhà. Ông đã quyết định rời hẳn cuộc sống ổn định ở Paris, mang kiến thức của một bác sĩ chuyên khoa về phục vụ đất nước vừa giành độc lập.

Trên cùng chuyến tàu còn có Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số trí thức Việt kiều như Phạm Quang Lễ, sau được Người đặt tên là Trần Đại Nghĩa, kỹ sư Võ Quý Huân cùng một số chuyên gia khác.

Phía trước họ là một đất nước đang đứng sát bờ vực chiến tranh.

Trần Hữu Tước sinh ngày 13 tháng 10 năm 1913 tại làng Bạch Mai. Thời niên thiếu, ông học tại Trường Albert Sarraut, một trường danh tiếng ở Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông nhận học bổng sang Pháp học tại Đại học Y khoa Paris.

Con đường trở thành bác sĩ chuyên khoa đòi hỏi nhiều năm học tập và thực hành tại bệnh viện. Năm 1940, Trần Hữu Tước bảo vệ xuất sắc luận án về phương pháp tạo hình tai tự thân sau phẫu thuật xương chũm.

Sau đó, ông thi đỗ kỳ tuyển chọn trợ lý các bệnh viện Paris, làm việc tại Bệnh viện Nhi khoa Necker và trở thành trợ lý thứ nhất của khoa tai–mũi–họng. Trong khoảng thời gian từ năm 1936 đến năm 1946, ông công bố nhiều công trình trên các tạp chí y học. Có nghiên cứu được đưa vào Bách khoa toàn thư Y học Pháp.

Ông còn là một trong những bác sĩ sớm thực hiện phẫu thuật chữa điếc theo phương pháp Lempert. Tên tuổi và tay nghề giúp ông được nhiều bệnh viện tại Pháp mời hợp tác giảng dạy, điều trị. Một sự nghiệp chuyên môn rộng mở cùng mức thu nhập cao đang chờ người bác sĩ Việt Nam tại Paris.

Nhưng tin Cách mạng Tháng Tám thành công và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã làm thay đổi lựa chọn của ông.

Mùa hè năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp với tư cách thượng khách, đồng thời tiến hành các cuộc tiếp xúc nhằm tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho quan hệ Việt–Pháp. Trong thời gian ấy, Người gặp gỡ nhiều trí thức Việt kiều, kêu gọi họ đem kiến thức trở về xây dựng đất nước.

Trần Hữu Tước nằm trong số những người hưởng ứng.

Quyết định ấy không chỉ có nghĩa là đổi nơi làm việc. Ở Paris, ông có bệnh viện, phòng mổ, đồng nghiệp và những phương tiện y khoa hiện đại. Trở về Việt Nam, ông chưa biết mình sẽ có bao nhiêu thuốc men, dụng cụ hay thậm chí một phòng khám đúng nghĩa. Tình hình quân sự đang xấu đi từng ngày; chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Dù vậy, ông vẫn lên tàu.

Sau khi Tạm ước Việt–Pháp được ký ngày 14 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Paris, xuống Toulon và lên tàu Dumont d’Urville trở về nước. Chuyến hải hành kéo dài hơn một tháng.

Trong những ngày trên biển, Trần Hữu Tước đảm nhiệm việc chăm sóc sức khỏe cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và những người trong đoàn. Các trí thức trẻ còn có dịp nghe Người trao đổi về tình hình đất nước, nhiệm vụ trước mắt và trách nhiệm của người có chuyên môn đối với nhân dân.

Con tàu đưa họ đi qua Địa Trung Hải, kênh đào Suez, Ấn Độ Dương rồi tiến vào Biển Đông. Ngày trở về càng gần, khoảng cách giữa cuộc sống vừa từ bỏ và hiện thực đang chờ đón càng hiện ra rõ ràng.

Tháng 10 năm 1946, tàu cập Hải Phòng. Trần Hữu Tước trở lại quê hương sau hơn mười ba năm xa cách.

Ông gần như lập tức bước vào công việc.

Một buổi sáng trung tuần tháng 11 năm 1946, sinh viên tập trung tại Trường Đại học Y–Dược Hà Nội ở phố Lê Thánh Tông để chờ nghe bài giảng của người thầy vừa từ Paris trở về. Giáo sư Hồ Đắc Di giới thiệu Trần Hữu Tước với các giảng viên và sinh viên.

Bên ngoài trường, tình hình hoàn toàn không yên bình. Những đoàn xe Jeep và xe bọc thép chở lính Pháp chạy trên tuyến Tràng Thi – Cột Cờ để thị uy. Trong sân trường, sinh viên vẫn đứng đợi giờ học.

Hai không gian tồn tại cạnh nhau: ngoài phố là dấu hiệu của một cuộc chiến đang đến gần; trong giảng đường là nỗ lực xây dựng nền y học cho một nước Việt Nam độc lập.

Chỉ hơn một tháng sau, ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Trần Hữu Tước rời Hà Nội lên chiến khu.

Ở Việt Bắc và các vùng tự do, bệnh viện không còn là những tòa nhà kiên cố. Cơ sở y tế phải phân tán để tránh máy bay và những cuộc càn quét. Thuốc men, dụng cụ phẫu thuật, điện và nước sạch đều thiếu. Có những kỹ thuật từng được thực hiện dễ dàng trong bệnh viện Paris nay trở thành thử thách lớn.

Trong hoàn cảnh đó, Trần Hữu Tước vừa điều trị, vừa giảng dạy tại Trường Đại học Y–Dược kháng chiến. Ông tham gia xây dựng những cơ sở tai–mũi–họng đầu tiên, đào tạo cán bộ và nghiên cứu các bệnh thường gặp ở người Việt Nam.

Bệnh tật cũng không bỏ qua người thầy thuốc.

Năm 1949, Trần Hữu Tước mắc bệnh đường ruột nặng. Cấp trên cho phép ông vào Hà Nội điều trị vì trong thành phố có điều kiện y tế tốt hơn. Nhưng Hà Nội lúc ấy nằm trong vùng do quân Pháp kiểm soát. Ông từ chối trở lại.

Cũng trong thời gian này, có người tìm cách mời ông về thành, hứa hẹn điều kiện làm việc thuận lợi. Người bác sĩ vẫn ở lại vùng kháng chiến.

Lựa chọn ấy đặt ông trước nguy cơ phải trả giá bằng chính sức khỏe của mình. Nhưng nếu trở về thành phố, hành trình từ Paris năm 1946 sẽ mất đi ý nghĩa ban đầu. Ông đã trở về không phải để tìm lại một cuộc sống thuận tiện khác, mà để phục vụ nền y học của chính quyền độc lập.

Trong điều kiện thiếu thốn, Trần Hữu Tước vẫn thực hiện được một số phẫu thuật lớn mà trước đó ngay tại Bệnh viện Bạch Mai dưới thời Pháp cũng chưa từng tiến hành. Ông nghiên cứu ung thư vòm mũi họng, các biến chứng não do bệnh ở tai, viêm tai và xương chũm ở trẻ nhỏ, điếc trẻ em cùng nhiều vấn đề chuyên môn khác.

Sau năm 1954, ông tiếp tục xây dựng mạng lưới tai–mũi–họng trên miền Bắc. Năm 1955, Trần Hữu Tước là một trong chín bác sĩ đầu tiên được Chính phủ phong hàm giáo sư.

Từ năm 1958 đến năm 1969, ông giữ chức Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai. Năm 1969, khi Viện Tai Mũi Họng Trung ương được thành lập, ông trở thành viện trưởng đầu tiên.

Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử quốc gia, kể từ ngày trở về, Trần Hữu Tước trực tiếp đào tạo hơn 500 bác sĩ và y sĩ chuyên khoa tai–mũi–họng. Những học trò của ông tiếp tục đào tạo thêm hàng nghìn nhân viên y tế và xây dựng mạng lưới điều trị tại các địa phương.

Con số ấy cho thấy giá trị lâu dài của lựa chọn năm 1946. Một bác sĩ giỏi có thể trực tiếp chữa trị cho rất nhiều bệnh nhân. Nhưng một người thầy giỏi còn tạo ra nhiều thế hệ bác sĩ, để kiến thức tiếp tục lan tới những nơi bản thân ông không thể có mặt.

Năm 1966, Trần Hữu Tước được tuyên dương Anh hùng Lao động. Ông qua đời ngày 23 tháng 10 năm 1983. Năm 1996, Nhà nước truy tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và kỹ thuật.

Ngày nay, ngành tai–mũi–họng đã có mặt tại hầu hết các bệnh viện lớn của Việt Nam. Những kỹ thuật chẩn đoán và điều trị hiện đại mà người bệnh được tiếp cận là kết quả của nhiều thế hệ thầy thuốc. Trong nền móng ấy có công sức đặc biệt của người bác sĩ đã rời Paris trên một con tàu vào tháng 9 năm 1946.

Trần Hữu Tước trở về với kiến thức của một chuyên gia, nhưng ông không có sẵn bệnh viện hiện đại để thực hành. Ông phải bắt đầu bằng một bài giảng giữa tiếng xe quân sự ngoài phố, rồi tiếp tục với những lớp học và bàn mổ trong chiến khu.

Chuyến tàu Dumont d’Urville vì thế không chỉ đưa một người Việt xa quê trở về nhà. Nó đưa về đất nước một hạt giống khoa học. Trần Hữu Tước đã dành phần đời còn lại để hạt giống ấy trở thành cả một ngành y học.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn